Thứ Tư, 3 tháng 2, 2016

Bài 33. Sự phát triển của sinh giới qua các đại địa chất

I.      HOÁ THẠCH VÀ VAI TRÒ CỦA HOÁ THẠCH TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINH GIỚI
  1. Hoá thạch là gì?
-        Hoá thạch là di tích của các sinh vật để lại trong các lớp đất đá của vỏ trái đất. Di tích của sinh vật để lại có thể dưới dạng các bộ xương, những dấu vết của sinh vật để lại trên đá (vết chân, hình dáng…), xác các sinh vật được bảo quản gần như nguyên vẹn trong các lớp hổ phách hoặc trong các lớp băng,...
  1. Vai trò của các hoá thạch trong nghiên cứu lịch sử phát triển của sinh giới
-        Hoá thạch cung cấp cho chúng ta những bằng chứng trực tiếp về sự phát triển của sinh giới. Bằng phương pháp xác định tuổi của các hoá thạch, người ta có thể biết được loài nào xuất hiện trước, loài nào xuất hiện sau cũng như mối liên hệ họ hàng giữa các loài.
-   Tuổi của hoá thạch có thể xác định bằng phươg pháp phân tích các đồng vị phóng xạ của Cacbon hoặc Urani.
II.    LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA SINH GIỚI QUA CÁC ĐẠI ĐỊA CHẤT
  1. Hiện tượng trôi dạt lục địa
-        Hiện tượng trôi dạt lục địa là hiện tượng các phiến kiến tạo trên lớp vỏ trái đất liên tục di chuyển do lớp dung nham nóng chảy bên dưới chuyển động.
-        Những biến đổi về kiến tạo của vỏ trái đất như quá trình tạo núi, trôi dạt lục địa dẫn đến thay đổi rất mạnh điều kiện khí hậu của trái đất, do vậy có thể dẫn đến những đợt đại tuyệt chủng hàng loạt các loài và sau đó là thời điểm bùng nổ sự phát sinh các loài mới.
  1. Sinh vật trong các đại địa chất
-        Dựa vào quá trình biến đổi của trái đất, và các hoá thạch điển hình các nhà địa chất học chia lịch sử phát triển của trái đất thành các giai đoạn chính được gọi là các đại địa chất. Bao gồm: đại Thái cổ, đại Nguyên sinh, đại Cổ sinh, đại Trung sinh, đại Tân sinh. Các đại lại được chia nhỏ thành các kỉ. Ranh giới giữa các đại hoặc các kỉ thường là các giai đoạn có những biến đổi của trái đất làm cho sinh vật bị tuyệt chủng hàng loạt và sau đó là bắt đầu một giai đoạn tiến hoá mới của các sinh vật sống sót. Các sinh vật sống sót tiến hoá và bước vào giai đoạn bùng nổ, phát sinh các loài mới và chiếm lĩnh các ổ sinh thái còn trống.
-        Mỗi đại, mỗi kỉ thường có các đặc điểm về địa chất và khí hậu riêng biệt nên cũng kéo theo sự phát triển của nhóm sinh vật điển hình. Ví dụ: đại Trung sinh còn được gọi là kỷ nguyên của bò sát.

CÂU HỎI THAM KHẢO:
Câu 1.    Tại sao hoá thạch là bằng chứng của tiến hoá?
-        Hoá thạch là di tích của các sinh vật để lại trong các lớp đất đá của vỏ trái đất. Di tích của sinh vật để lại có thể dưới dạng các bộ xương, những dấu vết của sinh vật để lại trên đá (vết chân, hình dáng…), xác các sinh vật được bảo quản gần như nguyên vẹn trong các lớp hổ phách hoặc trong các lớp băng,...
-        Hoá thạch cung cấp cho chúng ta những bằng chứng trực tiếp về sự phát triển của sinh giới. Bằng phương pháp xác định tuổi của các hoá thạch, người ta có thể biết được loài nào xuất hiện trước, loài nào xuất hiện sau cũng như mối liên hệ họ hàng giữa các loài.
Câu 2.    Người ta căn cứ vào đâu để tính tuổi của hoá thạch?
-        Tuổi của hoá thạch có thể xác định bằng phươg pháp phân tích các đồng vị phóng xạ của Cacbon hoặc Urani.
Câu 3.    Nêu các sinh vật điển hình của các kỉ.
-        Đệ tứ - đại Tân sinh: loài người
-        Đệ Tam – Đại Tân sinh: phát sinh các nhóm linh trưởng, cây có hoa ngự trị. Phân hóa lớp thú, chim, côn trùng
-        Phấn trắng – Đại Trung sinh: xuất hiện thực vật có hoa. Tiến hóa động vật có vú. Cuối kỉ tuyệt diệt nhiều sinhvật, kể cả bò sát cổ.
-        Jura – Đại Trung sinh: cây hạt trần và bò sát cổ ngự trị. Phân hóa chim.
-        Tam điệp – Đại Trung sinh: cây hạt trần ngự trị, phân hóa bò sát cổ. Cá xương phát triển, phát sinh thú và chim
-        Pecmi – Đại Cổ sinh: phân hóa bò sát, côn trùng. Tuyệt diệt nhiều loài động vật biển
-        Than đá – Đại Cổ sinh: dương xỉ phát triển mạnh, thực vật có hạt xuất hiện. Lưỡng cư ngự trị.
-        Đêvôn – Đại Cổ sinh: phân hóa cá xương, phát sinh lưỡng cư, côn trùng
-        Silua – Đại Cổ sinh:cây có mạch và động vật lên cạn.
-        Ocđôvic – Đại Cổ sinh: phát sinh thực vật, tảo biển ngự trị. Tuyệt diệt nhiề sinh vật
-        Cambri – Đại Cổ sinh: phát sinh các ngành động vật, phân hóa tảo.
-        Đại Nguyên sinh: động vật không xương sống bậc thấp. Tảo
-        Đại Thái cổ: hóa thạch sinh vật nhân sơ cổ xưa nhất.
Câu 4.    Phân tích mối quan hệ giữa điều kiện địa chất, khí hậu với sinh vật qua các kỉ địa chất. Cho một số ví dụ.
-        Sự tiến hóa của sinh vật có liên quan đến điều kiện địa chất, khí hậu qua các thời đại và kỉ địa chất.
-        Ví dụ: ở kỉ Jura thuộc đại Trung sinh, hình thành 2 lục địa, biển tiến vào lục địa, khí hậu ấm áp, do đó cây hạt trần, bò sát cổ phát triển và ngự trị; ở Kỉ Đệ tam thuộc đại Tân sinh, khí hậu ấm áp dẫn đến thực vậtcó hoa, các động vật phát triển và phân hóa nhiều, đa dạng; ở kỉ Pecmi thuộc Đại Cổ sinh, liên kết đại lục, biển thu hẹp, băng hà, khí hậu khô lạnh dẫn đến tuyệt diệt nhiều động vật biển; cuối kỉ Phấn trắng bò sát cổ bị tuyệt diệt do khí hậu khô, do nhiều thiên thạch va chạm vào Trái Đất.
Câu 5.    Hiện tượng trôi dạt lục địa ảnh hưởng như thế nào đến sự tiến hoá của sinh giới?
-        Hiện tượng trôi dạt lục địa là hiện tượng các phiến kiến tạo trên lớp vỏ trái đất liên tục di chuyển do lớp dung nham nóng chảy bên dưới chuyển động.

-        Những biến đổi về kiến tạo của vỏ trái đất như quá trình tạo núi, trôi dạt lục địa dẫn đến thay đổi rất mạnh điều kiện khí hậu của trái đất. Ví dụ: khi các lục địa liên kết lại thành siêu lục địa thì vùng trung tâm siêu lục địa sẽ trở nên khô hạn nhiều. Do vậy có thể dẫn đến những đợt đại tuyệt chủng hàng loạt các loài và sau đó là thời điểm bùng nổ sự phát sinh các loài mới.

1 nhận xét:

  1. thank thay pai nay giup cho em kha nhìu hi hi ;)

    Trả lờiXóa