Thứ Tư, ngày 03 tháng 2 năm 2016

Bài 39. Biến động số lượng cá thể của quần thể sinh vật

I.      BIẾN ĐỘNG SỐ LƯỢNG CÁ THỂ:
1.     Biến động theo chu kì:
-        Là biến động xảy ra do những thay đổi có tính chu kì của môi trường.
Ví dụ: sự biến động số lượng mèo rừng Canada đúng theo chu kỳ biến động số lượng của thỏ
Chim cu gáy ăn hạt xuất hiện nhiều vào mùa thu hoạch lúa, ngô
2.     Biến động không theo chu kì:
-        Là kiểu biến động số lượng cá thể của quần thể tăng hay giảm đột ngột do điều kiện bất thường của thời tiết: lũ lụt, bão, cháy rừng, dịch bệnh, hay do hoạt động khai thác quá mức của con người.
II.    NGUYÊN NHÂN GÂY BIẾN ĐỘNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH SỐNG LƯỢNG CÁ THỂ CỦA QUẦN THỂ:
1.     Nguyên nhân gây biến động số lượng cá thể của quần thể
  1. Do thay đổi của các nhân tố sinh thái vô sinh
-        Trong các nhân tố sinh thái vô sinh thì khí hậu có ảnh hưởng thường xuyên và rõ rệt nhất. Nhiệt độ không khí xuống quá thấp là nguyên nhân gây chết nhiều động vật.
-        Các nhân tố vô sinh không bị chi phối bởi mật độ cá thể trong quần thể mà tác động trực tiếp lên sinh vật nên gọi là nhân tố không phụ thuộc mật độ quần thể.
  1. Do thay đổi của các nhân tố sinh thái hữu sinh
-        Sự cạnh tranh của các cá thể trong cùng 1 đàn, số lượng kẻ thù, sức sinh sản, độ tử vong, sự phát tán của các cá thể trong quần thể …có ảnh hưởng rất lớn đến biến động số lượng cá thể trong quần thể.
-        Các nhân tố sinh thái hữu sinh bị chi phối bởi mật độ cá thể của quần thể nên gọi là nhân tố phụ thuộc mật độ quần thể.
2.     Sự điều chỉnh số lượng cá thể của quần thể
-        Quần thể sống trong 1 môi trường xác định luôn có xu hướng tự điều chỉnh mật độ cá thể ổn định:
 + Trong điều kiện môi trường thuận lợi: nguồn thức ăn dồi dào, ít kẻ thù, sức sinh sản của quần thể tăng à số lượng cá thể tăng nhanh chóng.
 + Mật độ cá thể tăng cao, sau 1 thời gian nguồn thức ăn trở nên thiếu hụt, nơi ở chật chội, ô nhiễm môi trường tăng …à cạnh tranh gay gắt à tử vong tăng, sức sinh sản giảm, đồng thời xuất cư cũng tăng cao à mật độ cá thể lại được điều chỉnh trở về mức ổn định.
3.     Trạng thái cân bằng của quần thể:
-        Khả năng tự điều chỉnh số lượng khi số cá thể của quần thể giảm xuống quá thấp hoặc tăng lên quá cao
-        Là trạng thái khi quần thể có số lượng cá thể ổn định và phù hợp với khả năng cung cấp nguồn sống của môi trường.

CÂU HỎI THAM KHẢO:
Câu 1.    Nguyên nhân gây biến động số lượng cá thể trong một số quần thể.
Quần thể
Nguyên nhân gây biến động
Cáo ở đồng rêu phương Bắc
Số lượng chuột lemmus
Sâu hại mùa màng
Vào mùa có khí hậu ấm áp sâu hại sinh sản nhiều
Cá cơm ở vùng biển Peru
Dòng nước nóng làm cá cơm chết hàng loạt
Chim gáy
Phụ thuộc vào nguồn thức ăn
Muỗi
Vào thời gian có nhiệt độ ấm áp và độ ẩm cao, muỗi sinh sản nhiều
Ếch nhái mùa mưa
Mùa mưa ếch nhái sinh sản mạnh
Bò sát, ếch nhái ở miền Bắc
Số lượng giảm bất thường khi có nhiệt độ xuống quá thấp (dưới 8oC)
Chim nhỏ, bộ Gặm nhấm ở miền Bắc
Số lượng giảm mạnh do lũ lụt bất thường
Động thực vật ở rừng U Minh Thượng
Số lượng giảm do cháy rừng
Thỏ rừng Ustralia
Số lượng tăng giảm bất thường do nhiễm virut gây bệnh u nhầy.
Câu 2.    Các nhân tố sinh thái vô sinh và hữu sinh ảnh hưởng như thế nào đến trạng thái cân bằng của quần thể?
-        Các nhân tố sinh thái vô sinh ảnh hưởng tới trạng thái sinh lí của các cá thể. Sống trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi, mức sinh sản của cá thể giảm, khả năng thụ tinh kém, sức sống của con non thấp,… Các nhân tố vô sinh tác động trực tiếp và một chiều lên sinh vật mà không phụ thuộc vào mật độ cá thể trong quần thể.
-        Các nhân tố hữu sinh như sự cạnh tranh giữa các cá thể trong cùng một đàn, số lượng kẻ thù ăn thịt, mức sinh sản và mức độ tử vong, sự phát tán của các cá thể trong quần thể,… có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tìm kiếm thức ăn, nơi ở, nơi đẻ trứng, khả năng sống sót của con non,… và do đó ảnh hưởng tới số lượng cá thể trog quần thể
Câu 3.    Thế nào là nhân tố sinh thái phụ thuộc mật độ, nhân tố không phụ thuộc mật độ? Các nhân tố này có ảnh hưởng như thế nào đến sự biến động số lượng cá thể của quần thể?
-        Các nhân tố vô sinh không bị chi phối bởi mật độ cá thể trong quần thể mà tác động trực tiếp lên sinh vật nên gọi là nhân tố không phụ thuộc mật độ quần thể. Các nhân tố vô sinh ảnh hưởng đến trạng thái sinh lí của cá thể. Sống trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi, mức sinh sản của cá thể giảm, khả năng thụ tinh kém, sức sống của con non thấp…
-        Các nhân tố sinh thái hữu sinh bị chi phối bởi mật độ cá thể của quần thể nên gọi là nhân tố phụ thuộc mật độ quần thể. Các nhân tố hữu sinh ảnh hưởng lớn đến khả năng tìm thức ăn, nơi ở, nơi đẻ trứng, khả năng sih sản và nở trứng, khả năng sống sót của con non, … và do  đó ảnh hưởng đến số lượng cá thể của quần thể.
Câu 4.    Những nghiên cứu về biến động số lượng cá thể có ý nghĩa như thế nào đối với sản xuất nông nghiệp và bảo vệ các loài sinh vật? Cho ví dụ minh hoạ.

-        Những nghiên cứu về biến động số lượng cá thể có thể giúp các nhà nông nghiệp xác định đúng lịch thời vụ, để vật nuôi cây trồng sinh trưởng trong điều kiện thích hợp nhất trong năm, nhằm đạt được năng suất cao. Đồng thời giúp các nhà bảo vệ môi trường chủ động trong việc hạn chế sự phát triển quá mức của các loài sinh vật gây hại, gây mất cân bằng sinh thái.

1 nhận xét: