Chủ Nhật, ngày 23 tháng 8 năm 2009

CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG MÀNG TẾ BÀO CÁC HÌNH THỨC PHÂN BÀO Ở SINH VẬT NHÂN SƠ VÀ NHÂN THỰC SỰ NHÂN LÊN VÀ LAN TRUYỀN CỦA VIRÚT - LỚP 10B08-

TRƯỜNG THPT MARIE CURIE
LỚP: 10B8
NĂM HỌC:2006-2007




NHÓM 5:
VŨ MINH HIỀN
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
NGUYỄN NGỌC NHÃ UYÊN
TRẦN MINH PHÁT
NGUYỄN HOÀNG NAM
ĐẶNG BÍCH VÂN
NGUYỄN THỊ XUÂN THUỶ


ĐỀ TÀI:
CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG MÀNG TẾ BÀO
CÁC HÌNH THỨC PHÂN BÀO Ở SINH VẬT NHÂN SƠ VÀ NHÂN THỰC
SỰ NHÂN LÊN VÀ LAN TRUYỀN CỦA VIRÚT


GIÁO VIÊN HUỚNG DẪN: NGUYỄN LÂM QUANG THOẠI
 - MỤC LỤC -
CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG MÀNG TẾ BÀO
I) Màng tế bào là gì? 2
II ) Sự phát hiện ra màng tế bào 2
III ) Cấu trúc màng tế bào
1.Màng xenlulozo ở tế bào thực vật 3
2.Màng nguyên sinh ở tế bào động vật vi sinh vật 4
IV ) Thành phần hoá học 5
V ) Mô hình cấu trúc dòng khảm động 7
VI ) Kênh trên màng tế bào 9
VII) Bơm 14
VIII) Chức năng của màng tế bào 16
Một số hình ảnh về màng tế bào 17
CÁC HÌNH THỨC PHÂN BÀO Ở SINH VẬT NHÂN SƠ VÀ NHÂN THỰC.
I ) Chu kì tếbào 18
II ) Nguyên phân 19
III ) Kết quả và ý nghĩa quá trình nguyên phân 20
Hình ảnh nguyên phân 20
IV Gỉam phân 21
V ) Kết quả và ý nghĩa của quá trình giảm phân 21
VI) So sánh nguyên phân và giảm phân 22
Hình ảnh quá trình giảm phân 23
SỰ NHÂN LÊN VÀ LAN TRUYỀN CỦA VIRÚT
I ) Lịch sử về nghiên cứu virút 24
II ) Khái niệm virút 25
1.virút là một cơ thể sống? 26
2.vi rút không phải là một cơ thể sống? 26
III ) Nguồn gốc virút 27
VI ) Nghĩa của từ virút 27
V) Hình dạng cấu trúc của virút 28
Hình ảnh một số vi rút phổ biến 30
Thành phần thực hiện và tư liệu bài làm 35
CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG MÀNG TẾ BÀO
I.MÀNG TẾ BÀO LÀ GÌ?
Màng tế bào là ranh giới ngăn cách tế bào sống với môi trường chung quanh nó. Màng tế bào kiểm soát sự vào ra của vật chất xuyên qua màng. Giống như các màng sinh học khác chúng là màng thấm chọn lọc (selective permeability) cho phép một số chất đi qua dễ dàng hơn những chất khác. Muốn giải thích được tính thấm chọn lọc của màng tế bào cần hiểu rõ cấu trúc của màng.

II. SỰ PHÁT HIỆN RA MÀNG TẾ BÀO
Năm 1972 , hai nhà khoa học là Singơ (Singer) và Nicônsơn (Nicolson) đã đưa ra mô hình cấu trúc màng sinh chất gọi là mô hình khảm - động . Theo mô hình này , màng sinh chất có lớp kép phôtpholipit . Liên kết phân tử prôtêin và lipit còn có thêm nhiều phân tử cacbohidrat . Ngoài ra , màng sinh chất ở tế bào động vật còn có thêm nhiều phân tử côlestêrôn có tác dụng tăng cường sự ổn định. Màng sinh chất là ranh giới bên ngoài và là bộ phận chọn lọc các chất từ môi trường đi vào tế bào và ngược lại . Màng sinh chất đảm nhận nhiều chức năng quan trọng của tế bào như : vận chuyển các chất , tiếp nhận và truyền thông tin từ bên ngoài vào trong tế bào , là nơi định vị của nhiều loại enzim , các prôtêin màng làm nhiệm vụ ghép nối các tế bào trong một mô... Màng sinh chất có các "dâu chuẩn" là glicôprôtêin đặc trưng cho từng loại tế bào . Nhờ vậy , các tế bào của cùng một cơ thể nhận biết ra nhau và nhận biết được các tế bào lạ của cơ thể khác.
III.CẤU TRÚC CỦA MÀNG TẾ BÀO
Có 3 lớp dày khoảng 70-120 , lớp trong và lớp ngoài có cấu tạo bằng các phân tử photpholipit
Gồm hai loại màng tế bào:
1)Màng xenlulô(Celluloz)chỉ có ở tế bào thực vật
a) Cấu tạo:
-Gồm hai chất pecto-celluloz (peptit&celluloz)
- Nhiều phân tử glucozơ(C2H2O5)Trùng hợp lại để cho ra celluloz
-Các phân tử xenlulo hợp lại tạo thành sợi tơ cơ thể(micel)
-Nhiều sợi tơ cơ bản bó lại tạo thành sợi tơ điển hình (micro phibrin)
-Các sợi tơ điển hình được gắn chặt với nhau theo mọi phía có chấ peptit là chấ vô định hình dạng keo nên giúp cho chúng gắn chặt lại với nhau tạo thành một lớp màng có cấu trúc cơ học rất cao
b)Chức năng:
-Tạo ra hình dạng ổn định cho tế bào
-Duy trì độ cứng của tế bào
-Tham gia vào quá trình bảo vệ tế bào
2)Màng nguyên sinh:có ở tế bào động vật , vi sinh vật
a)Cấu tạo:
-Màng cơ bản của Dainielly Dawson(1935-1937)
-Mô hình của Singer&Nicolson (1972):”màng khảm lỏng”
-Gồm 2 lớp lipit sát vào nhau, đầu ưa nước quay ra ngoài, đầu kị nước hướng ra ngoài, protein nằm xen kẻ lipit
-Protein trên màng thường đóng vai trò là enzym(men)
b)Thnh phẩn hố học
-Protein:protein xuyên màng và protein trên màng
-Lipit:chủ yếu là photpholipit
còn lại là glicolipit
-Gluxit
c) Chức năng
-Trao đổi chất giữa tế bào với môi trường
- Bảo vệ khối sinh chất bên trong tế bào
Lớp lipid kép hay màng lipid kép là màng hay một vùng của màng chứa các phân tử lipid, thường là phospholipid). Lớp lipid kép là thành phần quan trọng của tất cả các loại màng sinh học, kể cả màng tế bào.
Các lipid chính có ở màng sinh học ở động vật có vú là phospholipid (với 2 loại chính là phosphoglyceride, và sphingomyelin), glycosphingolipid và cholesterol. Các lipid ở màng đều chứa những vùng kị nước (không tan trong nước nhưng tan trong dầu) và ưa nước (tan trong nước nhưng không tan trong dầu).
Trong môi trường nước, các phân tử lưỡng tính với nước thường tự tổ chức ở trạng thái bền về nhiệt động; chẳng hạn như cấu trúc micelle: vùng kị nước được che chắn khỏi nước, trong khi vùng ưa nước được nhúng vào môi trường nước.
Màng kép sinh học có khả năng thoả mãn yêu cầu về nhiệt động của các phân tử lưỡng tính đối với nước khi ở trong môi trường nước. Màng kép có cấu trúc như một tấm trong đó vùng kị nước của các phospholipid được che chắn khỏi môi trường nước, còn vùng ưa nước được nhúng vào nước. Chỉ có các đầu tận cùng hoặc bờ của các tấm này có thể phải tiếp xúc với môi trường không thuận lợi, nhưng các bờ này có thể tự cuốn lại thành túi kín. Màng kép đóng kín là một đặc tính quan trọng cho màng sinh học. Nó không thấm hầu hết các phân tử tan trong nước vì chúng không tan trong phần lõi kị nước của màng kép.
Các khí như ôxi, CO2 và nitơ - là những phân tử nhỏ hầu như không tương tác với dung môi - sẵn sàng khuếch tán qua vùng kị nước của màng. Các phân tử dẫn xuất từ lipid như hormone steroid, cũng dễ dàng đi ngang qua màng. Các phân tử hữu cơ không điện giải có mức khuếch tán khác nhau tuỳ thuộc vào hệ số phân chia dầu-nước (oil-water partition coefficient); phân tử càng tan trong lipid thì mức độ khuếch tán qua màng càng cao.
Các phân tử không tan trong lipid qua màng nhờ các kênh protein, đối với các ion hay phân tử nhỏ, hay protein vận chuyển, đối với các phân tử lớn hơn












.
IV.THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA MÀNG TẾ BÀO
1. Lipid

Màng tế bào được cấu tạo bởi phần lớn là phospholipid. Phosphatidylcholin, là một loại phospholipid hầu như chỉ tìm thấy ở nửa lớp ngoài của màng, gồm có một đầu phân cực (cholin mang điện tích dương, phosphat mang điện tích âm và một glycerol không phân cực) được nối với hai sợi acid béo kỵ nước, nếp gấp trong đuôi bên phải tạo ra do nối đôi (Hình 2.1); như vậy đuôi chưa bảo hòa, phospholipid như vậy sẽ ít gắn chặt với nhau và nhờ thế màng sẽ linh động hơn.
Hình 1. Phosphatidylcholin
b. Cholesterol Hình2:colesteron trong màng tế bào
Cholesterol có tác dụng ngăn cách hai phân tử phospholipid, nếu không các đuôi phospholipid sẽ dính vào nhau gây tình trạng bất động, hậu quả là sẽ làm cho màng ít linh động và trở nên cứng rắn (Hình 2). Hàm lượng cholesterol thay đổi rất lớn theo loại tế bào, màng của nhiều loại tế bào chứa số phân tử cholesterol gần như bằng số phân tử phospholipid, trong khi một số loại màng khác gần như hoàn toàn

2. Protein trong mng tế bo
Trung bình protein chiếm 50% trọng lượng các phân tử cấu tạo màng. Do phân tử lipid nhỏ hơn phân tử protein nên nếu protein chiếm 50% trọng lượng thì số phân tử lipid nhiều gấp 50 lần số phân tử protein. Tuy nhiên, protein ở màng myelin của tế bào thần kinh chỉ chiếm khoảng 25% hay có thể lên đến 75% ở màng trong của ty thể và lục lạp.
Trong màng tế bào có chứa hai loại protein, được phân biệt tùy theo cách sắp xếp của chúng trong màng:
* Protein ngoại vi (peripheral protein)
Protein gắn vào đầu phân cực của phân tử phospholipid, do đó có thể thay đổi vị trí và có thể bị lấy mất đi do một tác nhân nào đó (như các chất có chứa nhiều muối). Chiều dày của màng tùy thuộc sự hiện diện vào các protein này, màng sinh chất dày nhất 9 nm, màng của mạng nội chất mỏng nhất 6 nm. Ngoài ra, sự hiện diện của các protein ngoại vi này làm cho cấu trúc màng có tính bất xứng (asymmetry).
* Protein hội nhập (Integral
protein)

Protein hội nhập có thể có vài kiểu sắp xếp: protein có thể chỉ tương tác với vùng kỵ nước của các phospholipid, một số protein hội nhập có thể xuyên qua màng được gọi là protein xuyên màng (transmembrane protein). Trong cách sắp xếp, protein với các acid amin ưa nước được đưa ra ngoài, nơi có thể tiếp xúc với
Hình 3. Protein trong màng nước (đầu phân cực hay acid amin có gốc R có điện tích dương), ngược lại những acid amin kỵ nước (không phân cực) được chôn trong màng đôi lipid (Hình 3). Vị trí của những acid amin ưa nước và kỵ nước của protein sẽ giúp cho protein hội nhập một phần vào màng hay xuyên màng. Protein hội nhập chỉ được tách ra khi làm vỡ màng và sau đó xử lý bằng cc chất tẩy.
3. Carbohydrat
Các carbohydrat thường gắn vào các protein ngoại vi tạo ra glycoprotein hay gắn vào các phân tử phospholipid màng tạo ra glycolipid và thường chỉ chiếm 2 - 10% thành phần cấu tạo. Carbohydrat không có trên màng ở phía tế bào chất, các phân tử carbohydrat này tạo ra glycocalyx, lớp vỏ bao ngoài tế bào (cell coat). Carbohydrat hiện diện ở bên trong của các bào quan trong tế bào (ở trong lumen). Sự hiện diện của các carbohydrat trên màng sinh chất cũng tạo ra tính bất xứng trong cấu trúc của màng.
V. MÔ HÌNH CẤU TRÚC DÒNG KHẢM (The fluid-mosaic model)
Các nhà nghiên cứu từ nhiều thập kỷ trước đã cố gắng tìm hiểu và đưa ra mô hình về cấu trúc màng tế bào. Vì sự hiểu biết về cấu trúc màng là chìa khóa để hiểu được chức năng của màng tế bào. Khoảng 1930 J. F. Danielli (đại học Princeton) và H. Davson (đại học ở London), đưa ra mô hình cấu trúc màng gồm màng với hai lớp phospholipid với đầu ưa nước (phân cực) đưa ra hai bề mặt của màng và các đuôi kỵ nước, (không phân cực) chôn bên trong tránh nước. Cấu trúc dựa trên sự tương tác giữa tính kỵ nước và ưa nước làm cho màng rất bền vững và đàn hồi.

Cấu trúc này tương tự như khi trộn các phân tử phospholipid với nước, các phân tử phospholipid sẽ sắp xếp lại tạo ra các khối rổng giống như thể lipo (liposome) gồm hai lớp phospholipid (Hình 4).
Hình 4. Thể lipo
Mặc dù mô hình trên giải thích được tính bênư vững, linh động của màng và đặc biệt là cho các chất lipid đi qua lại màng một cách dễ dàng nhưng mô hình trên không giải thích được tính thấm chọn lọc của màng đối với một số ion và một số hợp chất hữu cơ. Sau đó hai ông đề nghị thêm là cả hai mặt của màng được bao bọc bởi protein, mang điện tích, các phân tử protein viền quanh các lỗ, giúp cho những phân tử nhỏ và một số ion xuyên qua được. Nhiều bằng chứng cho thấy mô hình này hiện nay không còn đúng nữa.



Hình 5. Mô hình cấu trúc dòng khảm của màng tế bào
1972 S. J. Singer ở đại học California (San Diego) và G. L. Nicolson (Salk Institude) đưa ra mô hình dòng khảm, một giả thuyết hiện nay được mọi nơi chấp nhận. Mô hình này là sự hợp nhất của mô hình màng của Danielli-Davson. Tuy nhiên, trong mô hình dòng khảm sự sắp xếp của protein rất khác biệt. Thay vì protein phủ hai bên màng, có những phân tử protein chuyên biệt gắn vào màng (trong mục 2.1.2), đảm nhận các chức năng đặc biệt. Trong hình 5 hai lớp lipid trong đó phần lớn là phospholipid tạo ra phần chính liên tục của màng, ở màng của sinh vật bậc cao có thêm cholesterol. Protein với nhiều kiểu sắp xếp khác nhau: một số được gọi là protein ngoại vi nằm trên bề mặt của màng, nối với các lipid bằng cầu nối cộng hóa trị; một số khác được gọi là protein hội nhập, gắn một phần hay toàn phần vào màng lipid, một số khác xuyên màng.
Tính linh động của màng là do các phân tử lipid có thể di chuyển qua lại, tính khảm để chỉ sự sắp xếp của các phân tử protein trên màng hay xuyên màng. Trong hình 6 mô tả thí nghiệm trộn lẫn tế bào của người và chuột, dùng các kháng thể đánh dấu với flourescein cho protein màng của chuột và rhodamin cho protein màng của người. Khi dung hợp tế bào, hai loại protein ở hai phía khác nhau, nhưng sau khi ủ 40 phút ở 37oC hai màng thống nhất lại thành một màng liên tục và hai loại protein thì xếp xen kẻ nhau. Các protein được nhận ra với kính hiển vi huỳnh quang. Các phân tử lipid màng ở tế bào vi khuẩn có thể được kéo dài ra đến 2,5 (m từ 1-đến 2 giây. Một số protein có thể di chuyển qua lại từ phía này sang phía khác của màng, một số bất động do gắn chặt tạo thành sợi hay tạo thành ống. Các phân tử lipid và protein cũng có thể xoay tròn hay lật ngược, dẹp xuống (flip-flop) tương đối dễ dàng.

Hình 6. Thí nghiệm chứng minh tính dịng khảm của lipid v protein
VI.KÊNH TRÊN MÀNG TẾ BÀO
Như đã biết, màng tế bào do chính phospholipid của tế bào tạo ra. Màng tuy linh động nhưng là màng chắn hiệu quả giữa bên trong và bên ngoài tế bào. Thành phần lipid trong màng rất cao, điều đó giải thích được tại sao những phân tử hòa tan trong lipid có thể khuếch tán vào ra dễ dàng, nhưng đối với một số chất không hòa tan trong lipid phải tùy thuộc vào các protein trên màng đôi lipid. Nhờ vào các protein trên màng một số chất có thể đi qua màng một cách dễ dàng ngược lại với khuynh độ (gradient) nồng độ của nó.
Màng có tính chọn lọc rất cao. Tính chọn lọc này trên từng phần của tế bào là do các tác nhân tải (hay chất vận chuyển) là những protein hoạt động như enzim. Bây giờ người ta biết được những yếu tố vận chuyển, kiểm soát sự qua lại của các phân tử qua màng là những kênh và những bơm chuyên biệt. Mỗi loại kinh hay bơm tùy thuộc vào protein màng cho một số hóa chất đặc biệt xuyên qua nên được gọi chung là permeaz.

1. Cc kiểu knh
a. Kênh khuếch tán (Hình 7)

Là kiểu kênh đơn giản nhất trong sự vận chuyển thụ động nhờ tính thấm đặc biệt cao của màng tế bào: chúng cho một số chất đặc biệt đi qua từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp hơn. Thí dụ kênh protein này cho ion K+¬, được tích lũy trong hầu hết tế bào và có điện tích nên không thể hòa tan trong màng phospholipid, nhưng kênh đặc biệt dành cho ion K+ cho phép chúng đi qua một cách từ từ với nồng độ kiểm soát được. Nếu không có sự đi ra
Hình 7. Kênh khuếch tán này nồng độ ion K+ bên trong tế bào sẽ trở nên rất cao làm ảnh hưởng đến các chức năng của tế bào. Sự chuyên biệt của kênh ion K+ là kết quả của hình dạng bên trong và điện tích, nhưng còn nhiều chi tiết về nó chưa được biết rõ.
b. Knh ion phối hợp (knh đồng vận chuyển) (Hình 8)


Hình 8. Kênh ion phối hợp
Là kiểu kênh phức tạp hơn cho hai chất qua cùng chiều. Thí dụ, ion Na+ bên ngoài tế bào cao hơn 11 lần. Tuy vậy Na+ phải có glucoz đi kèm mới xuyên qua kênh thích hợp trên màng để vào được bên trong tế bào. Cả hai phải gắn vào phía ngoài kênh trước khi kênh được mở ra. Khi ion Na+ gắn vào kênh, có thể gây ra một cảm ứng gì đó làm cho glucoz cũng gắn được vào kênh. Sự gắn glucoz có thể gây ra một hậu quả khác, có thể làm đóng kênh ở phía ngoài màng và mở kênh ra ở phía trong màng. Sự thay đổi này, có thể làm cho kênh mất ái lực đối với glucoz và giải phóng glucoz cũng như ion Na+ vào bên trong tế bào. Mất ion Na+ và glucoz làm kênh mở lại ở phía ngoài màng.
c. Kênh có cổng (Hình 9)


Hình 9. Kênh có cổng
Một kiểu kiểm soát sự di chuyển vật chất qua màng là nhờ một cổng ngang qua kênh. Khi một phân tử tín hiệu, một hormon hay một chất truyền tải mang thông tin từ một tế bào thần kinh này sang một tế bào thần kinh khác, gắn vào một thụ thể (receptor) là một protein xuyên màng, lúc đó có sự thay đổi cấu trúc. Sự thay đổi này làm cho cổng mở ra, và tín hiệu thứ hai, thường là một ion như ion Na+ hay Ca++, có thể đi qua mang thông tin vào trong tế bào. Kiểu kênh đóng mở này vận chuyển nhiều thông tin hóa học (chemical messages) cả ở thực vật và động vật, các xung thần kinh nhờ đó động vật cảm nhận thế giới bên ngoài, các cử động và có lẻ ngay cả suy nghĩ.
d. Kênh tải cơ động (Hình 10)


Hình 10. Kênh tải cơ động
Một kiểu permeaz khác hoạt động như một chất tải cơ động (mobile carrier), tải từng phân tử một. Chưa có một thí dụ chắc chắn nào về kiểu permeaz này. Nhưng valinomycin hoạt động y như một chất tải cơ động. Valinomycin là một đa phân dạng vòng với đầu kỵ nước ở ngoài và đầu phân cực ở trong, với 6 nguyên tử oxy xếp thành hàng có thể giữ một ion K+. Phức hợp hoạt động như một quả lắc qua lại mang ion K+ ở cảí hai hướng. Sự vận chuyển ion K+ dựa trên khuynh độ hóa điện: Valinomycin thường lấy ion K + trong tế bào và phóng thích ra ngoài một các đơn giản, vì ion này trong tế bào nhiều hơn ở ngoài. Valinomycin không phải là một protein, vì một đơn vị trong chuỗi peptid của nó không phải là acid amin. Ðây là một chất kháng sinh (antibiotic) do một số vi khuẩn tiết ra để gây độc cho những vi sinh vật xung quanh bằng cách làm thay đổi tính thấm chọn lọc của màng tế bào của các vi khuẩn này. Có một vài bằng chứng chứng tỏ có chất tải cơ động trên một màng bình thường, nhưng hiện nay vấn đề vẫn còn nhiều nghi vấn.
thay đổi tính thấm chọn lọc của màng tế bào của các vi khuẩn này. Có một vài bằng chứng chứng tỏ có chất tải cơ động trên một màng bình thường, nhưng hiện nay vấn đề vẫn còn nhiều nghi vấn.
2. Sự đồng vận chuyển và đối vận chuyển ( symport và antiport)
a. Sự đồng vận chuyển
Là hiện tượng hai chất cùng được tải qua kênh đi về một hướng. Ðây là kiểu vận chuyển quan trọng xuyên qua màng của glucoz, nguồn năng lượng quan trọng cho hầu hết tế bào. Ion Na+ ở bên ngoài có khuynh độ nồng độ cao gấp nhiều lần so với bên trong, nên có xu hướng di chuyển vào bên trong tế bào. Nó phải được đồng vận chuyển với glucoz để đi qua một kênh thích hợp. Kênh này không vận chuyển riêng rẻ, hai chất phải được gắn vào phía bên ngoài của kênh trước khi kênh được mở ra. Vì vậy năng lượng tự do của ion Na+ do khuynh độ nồng độ cao có thể được lợi dụng để tải glucoz ở một nồng độ nhỏ hơn. Về mặt nhiệt động học, hai phản ứng khuếch tán được liên kết với nhau. Ion Na+ xuống dốc (downhill) giải phóng năng lượng tự do nhiều hơn, năng lượng này được sử dụng để vận chuyển glucoz lên dốc (uphill), kết quả là quá trình đồng khuếch tán diễn ra.
b. Sự đối vận chuyển
Là hiện tượng phức tạp hơn, xảy ra ở những kênh trao đổi ion, vận chuyển hai ion mang điện tích giống nhau: trong khi một ion di chuyển vào bên trong tế bào, một ion khác đi ra, cho nên duy trì được sự cân bằng điện tích. Nhiều protein hội nhập trên màng có thể trao đổi Cl- với HCO3- (CO2 hòa tan), đây là vai trò của hồng cầu mang CO2 thải ra từ tế bào đến phổi.
VII. BƠM
Một kiểu permeaz khác được gọi là bơm, không tùy thuộc vào khuynh độ năng lượng tự do. Bơm sử dụng năng lượng dự trử của tế bào để đưa các chất đi ngược khunh độ gradient nồng độ của chúng. Quá trình này được gọi là sự vận chuyển tích cực (active transport), điều này quan trọng giúp tống các chất tích tụ không hòa tan trong màng và những phân tử lớn thoát ra khỏi màng.
1. Bơm Na - K
Trong kiểu vận chuyển này, bơm sử dụng năng lượng từ trong tế bào và giúp vận chuyển các chất ngược chiều khuynh độ của nó. Trong trường hợp này, ba ion Na+ được đổi với hai ion K+, cả hai loại ion này đều có nồng độ cao nơi chúng sẽ được chuyển đến.
Trong mô hình (Hình 11): Hai ion K+ được giải phóng trong chu kỳ trước đó tiếp theo là sự gắn vào của ba ion Na+ và nguồn năng lượng ATP từ trong tế bào. Hậu quả cấu trúc protein kênh thay đổi, mở phía ngoài, giảm ái lực đối với ion Na+và giải phóng ion Na+; đồng thời gia tăng ái lực đối với K+. Sự gắn của ion K+ làm kênh mở ra ở phía trong, gia tăng ái lực đối với ion Na+ và giảm ái lực đối với ion K+ và chu trình bắt đầu trở lại. Kết quả của việc bơm ion này đưa điện tích dương ra phía ngoài màng và bên trong màng trở nên âm với bên ngoài. Ðiện thế và thẩm thấu sinh ra bởi bơm Na- K sau cùng có thể phối hợp để vận chuyển glucoz (Hình 8).


Hình 11. Bơm Na – K





2. Khuynh độ hĩa điện qua mng

Gradient nồng độ giải thích được sự di chuyển kết hợp của ion Na+ và glucoz qua cùng một kênh, nhưng mức độ của sự di chuyển quá lớn không thể giải thích đơn thuần bằng sự khác biệt nồng độ xuyên qua màng. Thật vậy, có một khuynh độ quan trọng thứ hai hổ trợ khuếch tán các ion ngược điện tích hấp dẫn nhau bằng lực tỉnh điện; trong khi những ion có cùng dấu đẩy nhau. Do vậy, nếu trong tế bào có nhiều ion mang điện tích âm hơn những ion mang điện tích
Hình 12. Khuynh độ hóa điện dương, những ion dương sẽ bị hấp dẫn bởi môi trường lỏng bao chung quanh nó (hầu hết tế bào có một tổng điện tích âm chừng 70 milivolt so với chất lỏng bao quanh chúng). Sự khác biệt về điện tích xuyên qua màng sinh ra một khuynh độ tỉnh điện (electrostatic gradient) và khi kênh thích hợp được mở ra, ion dương có xu hướng chui vào trong tế bào, trong khi những ion âm có xu hướng đi ra. Thí dụ ion Na+, có nồng độ rất cao ở bên ngoài tế bào, áp suất thẩm thấu và lực tỉnh điện kết hợp lại sinh ra một khuynh độ hóa điện cao (electrochemical gradient) (Hình 12). Ðây là năng lượng tự do của sự kết hợp rất có hiệu quả của ion Na+ để vận chuyển glucoz vào trong tế bào. Cơ chế do khuynh độ hóa điện cũng hiện diện trong bơm Na - K.
VIII.CHỨC NĂNG CỦA MÀNG TẾ BÀO
- Bảo vệ khối sinh chất bên trong
-Giữ chức năng (nhờ có những lỗ nhỏ) giữa các tế bào ,cũng như giữ tế bào với môi truờng xung quanh tế bào, có thẩm tính chọn lọc khi tế bào còn sống .
-Tế bào thự vật còn có thêm vách xenlulô bên ngoài màng sinh chất, làm nhiệm vụ bảo vệ và giữ cho hình dạng tế bào cứng chắc
- Khống chế sự qua lại của các chất dinh dưỡng, các sản phẩm trao đổi chất
- Duy trì áp suất thẩm thấu bình thường trong tế bào.
- Là nơi sinh tổng hợp các thành phần của thành tế bào và các polyme của bao nhày (capsule)
-Là nơi tiến hành quá trình phosphoryl oxy hoá và quá trình phosphoryl quang hợp (ở vi khuẩn quang tự dưỡng)
- Là nơi tổng hợp nhiều enzym, các protein của chuỗi hô hấp.
- Cung cấp năng lượng cho sự hoạt động của tiên mao
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ MÀNG TẾ BÀO





CÁC HÌNH THỨC PHÂN BÀO Ở SINH VẬT NHÂN SƠ VÀ NHÂN THỰC.
T
ế bào trong cơ thề lớn dần đến một mức độ nhất định thì bắt đầu phân chia.Có hai hình thức phân chia tế bào(gọi tắt là phân bào) là
trực hân và gián phân
Trực phân:đơn giản nhất, không hình thành thoi vô sắc(phân bào không tơ.Ở các cơ thể đa bào, hình thức trực phân chỉ xuất hiện ở trạng thái bệnh lí như ở các tế bào ung thư hoặc trong những điều kiện bất lợi, cản trở sự hình thành thoi vô sắc.
Gỉam phân: là hình thức phân bào phức tạp hơn, thường gặp ở tế bào ở cơ thể đa bào. Trong quá trình giảm phân có sự hình thành tơ vô sắc trong nhân nên được gọi là phân bào có tơ.
căn cứ vào số lượng nhiễm sắc thể trong tế bào con, người ta chia ra làm 2 loại:
Gían phn nguyn nhiễm(nguyn phn)
Gin phn giảm nhiễm(giảm phn)
I)CHU KÌ Tế BÀO:từ lúc tế bào hình thành cho đến lúc sinh sản tế bào mới
Chu kì tế bào gồm các giai đọan sau:
Giai đoạn G1(Gap)1
S
G2(Gap)2
M

Biểu đồ về chu kỳ tế bào. I=Gian kỳ, M=Nguyên phân. Quá trình nguyên phân với các pha chính
Các pha trong chu kỳ tế bào:
Pha G0 là một giai đoạn của chu kỳ tế bào cell cycle mà tế bào ở trạng thái lặng yên.
Pha G1 là pha phát triển đầu tiên của chu kỳ.
Pha S, trong pha này DNA được sao chép, chữ S xuất phát từ synthesis of DNA có nghĩa là tổng hợp DNA (còn gọi là axít nhân ADN: Axít Dezoxy riboNucleic).
Pha G2 là pha phát triển thứ hai, cũng là pha chuẩn bị cho tế bào phân chia.
Pha M, hay pha phân bào mitosis, và trạng thái hoạt động của tế bào (cytokinesis), sự phân chia tế bào thực sự đã diễn ra để tạo thành hai tế bào mới giống nhau.
Một vài tế bào như là tế bào thần kinh, không bao giờ phân chia khi đó nó luôn dừng lại ở pha G0. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy ở những trường hợp tổn thương chết tế bào thì tế bào thần kinh vẫn có thể đi vào lại chu kỳ tế bào. Ngoài ra các chất ức chế chu kỳ tế bào ngăn cản tế bào khỏi cái chết được lập trình được biết như là apoptosis.

II)NGUYÊN PHÂN:Xảy ra ở các tế bào soma(sinh dưỡng có bộ nhiễn sắc thể 2n)
Giai đoạn chuẩn bị(kì trung gian)
-giai đoạn này kéo dài tế bào từ 6-10h có những tế bào đến 24h
-chất nhiễm sắc biến thành nhiễm sắc thể
-NST tự nhân đôi =>2 cromatit còn dính nhau ở tâm động(sister chro matid
-trong tế bào có những biến đổi sâu sắc nhau :
Ty thể:tăng ->có nhiều năng lượng
tổng hợp protein mạnh
Giai đoạn phn chia nhn:Gổm 4 kì
1.kì trước :
-nhân trương phồng lên
-màng nhân, hạt nhân tiêu biến
-xuất hiên thoi vô sắc nối liền hai cực của tế bào
-nhiễm sắc thể xoắn lại
2.Kì giữa :
-NST rút ngắn tối đa có hình dạng rõ nhất
-các NST kép xếp thành 1 hàng trên mặt phẳng xích đạo
3.Kì sau:
-Các NST kép tách làm 2 NST đơn trượt trên thoi vô sắc về 2 cự của tế bào
4.Kì cuối
-ở mỗi cực xuất hiên nhân, màng nhân
-thoi vô sắc tiêu biến
- NST duỗi ra
c)giai đoạn phân chia tế bào chất
tế bào động vật:cuối kì sau hoặc đầu kì cuối, tế bào chất thắt co ở giữa để phân chia tế bào mẹ thành 2 tế bào con
tế bào thực vật : cuối kì sau hoặc đầu kì cuối, tế bào chất xuất hiện vách ngăn ở giữa tế bào để phân chia tế bào mẹ thành hai tế bào con

III/ KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN PHÂN
Kết qua :từ một tế bào mẹ thành 2 tế bào con giống hệt tế bào mẹ
Ý nghĩa:
Đảm bảo bộ NST đặc trưng của lồi được di truyển ổn định qua cc thế hệ
Gip cơ thể tăng kích thước v khối lượng
Duy trì số lượng NST không đổi trong tế bào dinh dưỡng
HÌNH ẢNH MÔ TẢ QUÁ TRÌNH NGUYÊN PHÂN

IV/ GIÁNG PHÂN GIẢM NHIỄM(GIẢM PHÂN):
Xảy ra ở tế bào sinh giao tử gồm hai lần phân bào liên tiếp.
a/Phân bào lần một qua bốn kì :
1)Kì trước 1:
-Các nhiễm sắc thể giống nhau về hình dạng kích thước đứng lại thành từng cặp tương đồng .
-Mỗi nhiễm sắc thể tự nhân đôi thành các sister chromatid.
-Các cromatid trong cặp tương đồng xóăn lại với nhau .
- Các cromaytid tách rời ra .màng nhân biến mất , thoi vố sắc xuất hiện.
b)Kì giữa 1:
- Các sister chromatid tập trunh thành hai hàng tr6en mật phẳng xích đạo .
c)Kì sau 1:
-Các sister chromatid trượt lên thoi vô sắc đi về mỗi cực của tế bào .
d)Kì cuối1:
- Thoi vô sắc tiêu biến , mỗi cực xuất hiện màng nhân .
b/ Phân bào lần hai :
e)kì trước 2:
- Xuất hiện hai thoi vô sắc vuông góc với thoi vô sắc ban đầu, màng nhân tiêu biến .
f) Kì giữa 2:
- Các sister chromatid xếp thành một hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi vô sắc.
g)Kì sau 2 :
- Cr tách rời  nhiễm sắc thể đơn trượt trên thoi vô sắc để đi về mỗi cực của tb.
h)Kì cuối 2:
- Thoi vô sắc biến mất , màng nhân xuất hiện ở mỗi cực và tb mẹ phân chia thành bốn tb con .
V/KếT QUả VÀ Ý NGHĨA CủA QUÀ TRÌNH GIảM PHÂN
a)Kết quả :
- Từ một tế bào mẹ thành bốn tb con.
- Mỗi tế bào con có số lượng nhiễm sắc thể giảm so với tb mẹ.
b)Ý nghĩa:
- Số nhiễm sắc thể tế bào sinh dục giảm đi nên lúc thụ tinh bộ nhiễm sắc thể 2n của loài được tái phục hồi .
- Nhờ có sự trao đổi đọan nên làm tăng tính đa dạng của sinh vật.
VI/ SO SNH NGUYN PHN V GIẢM PHN
1)Gíông nhau:
-Phân bào có tơ, phồ biến ở cơ thể sinh vật
Đều là sự giáng phân, nhân phân chia trước,tế bào chất phân chia sau
Diễn ra theo 5 giai đoạn:trung gian, trước, giữa, cuối, sau
a)Kì trung gian : Tế bào phải trưởng thành, có đầy đủ thành phần cấu tạo
Chất nguyên sinh(nhiễm sắc thể, xếp cặp tương đồng, tự nhân đôi
b)Kì trước Xuất hiên thoi vô sắc
Màng nhân và nhân con biến mất
c)Kì giữa : Nhiễn sắc thể xếp trên mặt phẳng xích đạo giữa tế bào
d)Kì sau :Nhiễm sắc thể phân li về hai cực của tế bào, màng nhân xuất hiện, ngăn tế bào mẹ thành hai tế bào con
e)Kì cuối Hình thành tế bào con với thành phần cấu tạo hoàn chỉnh
Khc nhau
NGUYÊN PHÂN
Xảy ra ở tế bào sinh dưỡng , tế bàomẹ 2n hình thành tế bào con 2n
Kì trứơc không xảy ra hiện tượng nhiễm sắc thể bắt chéo

Kì giữa:mỗi nhiễm sắc thể tự nhân đôi tạo thành NST kép nhưng chưa tách rời nằm trên mặt phẳng xác định gắn với 2 đầu sợi xác định

Kì sau :NST kép tách rời, mỗi 1/2phân ly về hai cực của tếbào
Một màng ngăn tế bào chất xuất hiện ngăn tế bào mẹ->2 tế bào con

-Kì cuối: *tế bào con trưởng thành tiếp tục nguyên phân

1 lần phân bào
GIẢM PHÂN
-Xảy ra ở tế bào tuyến sinh dục tế bào mẹ 2n hình thành tế bào con n
-Kì trước nhiều trường hợp xảy ra hiện tượng NST bắt chéo,NST kép của cặp tương đồng tương xứng nhau, trao đổi từng đoạn NST tạo nên tổ hợp gen
-Kì giữa I:NST kép xếp đối diện thành cặp tương đồng trên mặt phẳng xác định, mỗi NST kép gắn với một đầu sợi xác định
-Kì giữa II:xuất hiện thoi vô sắc mới gắn với 2 đầu sợi xác định
-Kì sau I:cả NST kép phân ly về 1 cực tế bào.Màng tế bào chất xuất hiện
-Kì sau II: NST kép tách đôi, mỗi nửa phân ly về một cực của tế bào. Màng tế bào chất 2 xuất hiện vuông góc với màng tế bào chất 1 ngăn tế bào mẹ thành 4 tế bào con
- Kì cuối: tế bào con phân hoá về hình dạng cấu tạo, biến thành tế bào sinh dục tham gia quá trình sinh sản

- 2 lần phân bào
HÌNH ảNH MÔ Tả QUÁ TRÌNH NGUYÊN PHÂN


SỰ NHÂN LÊN VÀ LAN TRUYỀN CỦA VIRÚT
I ) LịNH Sử Về NGHIÊN CứU VIRÚT
Ngay từ năm 1883 nhà khoa học người Đức Adolf Mayer khi nghiên cứu bệnh khảm cây thuốc lá đã nhận thấy bệnh này có thể lây nếu phun dịch ép lá cây bị bệnh sang cây lành, tuy nhiên ông không phát hiện được tác nhân gây bệnh.
Năm 1884 Charles Chamberland đã sáng chế ra màng lọc bằng sứ để tách các vi khuẩn nhỏ nhất và
Vào năm 1892 nhà thực vật học người Nga Dimitri Ivanovski đã dùng màng lọc này để nghiên cứu bệnh khảm thuốc lá. Ông nhận thấy dịch ép lá cây bị bệnh đã cho qua màng lọc vẫn có khả năng nhiễm bệnh cho cây lành và cho rằng tác nhân gây bệnh có lẽ là vi khuẩn có kích thước nhỏ bé đến mức có thể đi qua màng lọc, hoặc có thể là độc tố do vi khuẩn tiết ra. Giả thuyết về độc tố qua màng lọc đã bị bác bỏ
Vào năm 1898 khi nhà khoa học người Hà Lan Martinus Beijerinck chứng minh được rằng tác nhân lây nhiễm là chất độc sống (Contagium vivum fluidum) và có thể nhân lên được. Ông tiến hành phun dịch ép lá cây bệnh cho qua lọc rồi phun lên cây và khi cây bị bệnh lại lấy dịch ép cho qua lọc để phun vào các cây khác. Qua nhiều lần phun đều gây được bệnh cho cây. Điều đó chứng tỏ tác nhân gây bệnh phải nhân lên được vì nếu là độc tố thì năng lực gây bệnh sẽ phải dần mất đi.
Năm 1901 Walter Reed và cộng sự ở Cuba đã phát hiện tác nhân gây bệnh sốt vàng, cũng qua lọc. Tiếp sau đó các nhà khoa học khác phát hiện ra tác nhân gây bệnh dại và đậu mùa. Tác nhân gây bênh đậu mùa có kích thước lớn, không dễ qua màng lọc, do đó các tác nhân gây bệnh chỉ đơn giản gọi là virus.
Năm 1915 nhà vi khuẩn học người Anh Frederick Twort và năm 1917 nhà khoa học người Pháp Felix d'Hérelle đã phát hiện ra virus của vi khuẩn và đặt tên là Bacteriophage gọi tắt là phage.
Năm 1935 nhà khoa học người Mỹ Wendell Stanley đã kết tinh được các hạt virus gây bệnh đốm thuốc lá (TMV). Rồi sau đó TMV và nhiều loại virus khác đều có thể quan sát được dưới kính hiển vi điện tử.
Như vậy nhờ có kỹ thuật màng lọc đã đem lại khái niệm ban đầu về virus và sau đó nhờ có kính hiển vi điện tử đã có thể quan sát được hình dạng của virus, tìm hiểu được bản chất và chức năng của chúng.
Ngày nay virus được coi là thực thể chưa có cấu tạo tế bào, có kích thước siêu nhỏ và có cấu tạo rất đơn giản, chỉ gồm một loại acid nucleic, được bao bởi vỏ protein. Muốn nhân lên virus phải nhờ bộ máy tổng hợp của tế bào, vì thế chúng là ký sinh nội bào bắt buộc.
Virus có khả năng gây bệnh ở mọi cơ thể sống từ vi khuẩn đến con người, là thủ phạm gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi, gây thất bát mùa màng và cản trở đối với ngành công nghiệp vi sinh vật.
Từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX trở lại đây ngày càng xuất hiện các dạng virus mới lạ ở người, động vật mà trước đó y học chưa hề biết tới, đe doạ mạng sống của con người. Sau HIV, SARS, Ebola, cúm A H5N1 sẽ còn bao nhiêu loại nữa sẽ xuất hiện để gây tai hoạ cho con người.
Mặt khác, do có cấu tạo đơn giản và có genom nhiều kiểu với cơ chế sao chép khác hẳn ở các cơ thể khác nên virus được chọn là mô hình lý tưởng để nghiên cứu nhiều cơ chế sinh học ở mức phân tử dẫn đến cuộc cách mạng sinh học cận đại: Sinh học phân tử, di truyền học phân tử. Vì những lý do trên việc nghiên cứu virus đã được đẩy mạnh và trở thành một ngành khoa học độc lập rất phát triển
II ) KHÁI NIỆM VIRÚT
Virus, còn gọi là siêu vi khuẩn hay siêu vi trùng, là một vật thể nhỏ xâm nhiễm vào cơ thể sống. Virus có tính kí sinh nội bào bắt buộc; chúng chỉ có thể sinh sản bằng cách xâm chiếm tế bào khác vì chúng thiếu bộ máy ở mức tế bào để tự sinh sản. Thuật ngữ virus thường chỉ các vật thể xâm nhiễm sinh vật nhân chuẩn (sinh vật đa bào hay đơn bào), trong khi thuật ngữ thực khuẩn thể (bacteriophage hay phage) được dùng để chỉ các vật thể xâm nhiễm sinh vật nhân sơ (vi khuẩn hoặc vi khuẩn cổ).
Virus điển hình mang một lượng nhỏ axit nucleic (DNA hoặc RNA) bao quanh bởi lớp áo bảo vệ (vỏ capsid) cấu tạo bằng protein, hay lipoprotein.
Điều quan trọng là bộ gen của virus không chỉ mã hoá cho các protein cần để bao bọc vật liệu di truyền của nó mà còn mã hoá cho các protein cần cho virus sinh sản trong chu kì xâm nhiễm của nó.
1.Virút là một cơ thể sống ?
Virus chưa có cấu tạo tế bào nhưng vẫn được coi là dạng sống vì nó có khả năng sinh sôi nảy nở (sinh sản-reproduction) nhờ có các vật chất di truyền là DNA hay RNA.
Những đặc điểm cơ bản của thể sống là:
Về tổ chức cơ thể:virút cũng được coi là một cơ thể sống vì được cấu tạo từ hai dạng vật chất sống chủ yế là protein va axit nucleotit
-Về hoạt động sống: ở virút ta cũng thấy những quá trình hoạt động cơ bản
+trao đổi chất: sử dụng vật chất sống trong tế bào vật chủ để tổng hôp nê vật chất sống của mình
+sinh trưởng phát triển
+sinh sản di truyền
Virus chính là một dạng sống sơ khai nhất của sinh giới, chỉ là nó chưa có cấu trúc tế bào mà vẫn còn nhiều đặc điểm về phân tử nhiều hơn. Còn như giọt coaxecva thì mặc dù cũng có những đặc điểm sống sơ khai nhưng không coi là dạng sống là bởi vì nó không có hiện tượng sinh sản với sự si truyền và biến dị.virus được coi là dạng sống là vì nó có các hiện tượng này.
2.Virút không phải là một cơ thể sống?
Virus thực chất chỉ là một đại phân tử hợp chất hữu cơ chứ không phải là một dạng sống của sinh vật.

Vì virus hoàn toàn không có khả năng hoạt động khi ở ngoài mt tự nhiên nó bất di bất hoạt chẳng khác nào một chất hữu cơ thông thường cả các quá trình mà mọi người cho rằng nó là sinh trưởng, phát triển,sinh sản trong TB vật chủ chẳng qua chỉ là những chuỗi phản ứng hóa học hữu cơ thôi một cách phức tạp thôi. sự kết hợp của các đại phân tử hình thành nên cài mà chúng ta gọi là virus.
Tất cả sinh vật đều có xu hướng bảo tồn vật chất di truyền để truyền cho các thế hệ sau, hơn nữa còn chịu tác động từ các tác nhân gây đột biến để tiến hóa. Virus cũng di truyền và tiến hóa nên chắc chắn nó phải có mặt trong sinh giới. Chẳng qua là cấu trúc bộ gen nó quá đơn giản và không có cấu trúc tê bào nên không có khả năng phát triển trong môi trường ngoại bào.
III ) NGUỒN GỐC CỦA VIRÚT
Người ta cho rằng virus có thể là một phần bộ gen của các loài sinh vật kí sinh nội bào hoặc hình thành từ sự lắp ghép các đại phân tử .
IV ) NGHĨA CỦA TỪ VIRÚT
Chữ "virus" có xuất xứ cũng từ chữ virus trong tiếng Latinh để chỉ chất độc (theo từ điển Websters 1913: slimy liquid, poisonous liquid, poison, stench). Chính vì vậy mà tiếng Hán ngày nay gọi nó là bệnh độc . Các tên gọi "siêu vi khuẩn" và "siêu vi trùng" có nguồn gốc từ sự tồn tại ở mức độ siêu vi thể (ultramicroscopic) của nó.
Ngày nay bên cạnh nghĩa sinh học như trên, "virus" còn được dùng theo nghĩa ẩn dụ để chỉ các những gì sinh sản kí sinh,
Từng hạt virus được gọi là virion hay viron.
V ) CÁC DẠNG TỒN TẠI CỦA VIRÚT
Có 3 dạng tồn tại của virus ở bên trong tế bào:
Viroid: ARN có tính cảm nhiễm
Virusoid: ARN không có tính cảm nhiễm
Virino:
virus l tc nhn ly nhiễm, nhỏ hơn vi khuẩn v chỉ cĩ thể ti tạo sau khi ly nhiễm vo tế bo chủ.
VI ) HÌNH DạNG CấU TRÚC CủA VIRÚT
Phần "đầu" được cấu tạo bằng một vỏ protein và lõi là một hoặc một số phân tử DNA hay RNA (capsid), phần "đuôi" của virus có thể có nhiều hình dạng khác nhau.

-Thể ăn khuẩn (Thể thực khuẩn-thực khuẩn thể-bacteriophage-s or phage-s): Cũng là một dạng virus nhưng phát triển và sinh sản trong các vật chủ là vi khuẩn.

(Người ta phân chia các loại virus dựa vào cấu trúc và đặc điểm của các capsid, của DNA và RNA, của các đặc tính miễn dịch hay loại bệnh mà chúng gây nên)
Phân biệt virus và thể ăn khuẩn

- Virus kí sinh trong tế bào động vật, thực vật và người thường có hình cầu hình que hình đa diện...
- Thể ăn khuẩn kí sinh trong tế bào vi khuẩn, thường có hình dạng giống 1 con nòng nọc.
1.Cấu tạo cơ bản của hầu hết các virút
Tất cả các virus đều có cấu tạo gồm hai thành phần cơ bản: lõi là acid nucleic (tức genom) và vỏ là protein gọi là capsid, bao bọc bên ngoài để bảo vệ acid nucleic. Phức hợp bao gồm acid nucleic và vỏ capsid gọi là nucleocapsid hay xét về thành phần hoá học thì gọi là nucleoprotein. Đối với virus ARN thì còn gọi là ribonucleoprotein
Genom của virus có thể là ADN hoặc ARN, chuỗi đơn hoặc chuỗi kép, trong khi genom của tế bào luôn là ADN chuỗi kép, và trong tế bào luôn chứa hai loại acid nucleic, ADN và ARN.
2.Vỏ capsid Capsid là vỏ protein được cấu tạo bởi các đơn vị hình thái gọi là capsome. Capsome lại được cấu tạo từ 5 hoặc 6 đơn vị cấu trúc gọi là protome. Protome có thể là monome (chỉ có một phân tử protein) hoặc polyme (có nhiều phân tử protein)
- Pentame (penton) có 5 protome nằm trên các đỉnh của khối đa diện, còn hexame (hexon) tạo thành các cạnh và bề mặt hình tam giác.
- Capsid có khả năng chịu nhiệt, pH và các yếu tố ngoại cảnh nên có chức năng bảo vệ lõi acid nucleic
- Trên mặt capsid chứa các thụ thể đặc hiệu, hay là các gai glicoprotein, giúp cho virus bám vào các thụ thể trên bề mặt tế bào. Đây cũng chính là các kháng nguyên (KN) kích thích cơ thể tạo đáp ứng miễn dịch (ĐƯMD).
- Vỏ capsid có kích thước và cách sắp xếp khác nhau khiến cho virus có hình dạng khác nhau. Có thể chia ra ba loại cấu trúc: đối xứng xoắn, đối xứng hình khối và cấu trúc phức tạp (Hình 1).
Ngoài ra còn số một số cấu trúc của virút :
4. Protein của virút
5. Kênh vận chuyển
6. glycoprotein(gai phụ)
7.protein vận chuyển qua màng
8.glyco protein vỏ ngoài
9. cầu disufur

Hình 1. Kích thước và hình thái của một số virus điển hình .Theo Presscott L. M. et al. , Microbiology. 6th ed. Intern. Ed. 2005.
3. Vỏ ngoài
Một số virus có vỏ ngoài (envelope) bao bọc vỏ capsid. Vỏ ngoài có nguồn gốc từ màng sinh chất của tế bào được virus cuốn theo khi nảy chồi. Vỏ ngoài có cấu tạo gồm 2 lớp lipid và protein.
Lipid gồm phospholipid và glycolipid, hầu hết bắt nguồn từ màng sinh chất (trừ virus pox từ màng Golgi) với chức năng chính là ổn định cấu trúc của virus.
Protein vỏ ngoài thường là glycoprotein cũng có nguồn gốc từ màng sinh chất, tuy nhiên trên mặt vỏ ngoài cũng có các glycoprotein do virus mã hóa được gắn trước vào các vị trí chuyên biệt trên màng sinh chất của tế bào, rồi về sau trở thành cấu trúc bề mặt của virus. Ví dụ các gai gp 120 của HIV hay hemaglutinin của virus cúm, chúng tương tác với receptor của tế bào để mở đầu sự xâm nhập của virus vào tế bào.
Vỏ ngoài cũng có nguồn gốc từ màng nhân do virus lắp ráp và nẩy chồi qua màng nhân (virus herpes)
Dưới tác động của một số yếu tố như dung môi hoà tan lipid, enzym, vỏ ngoài có thể bị biến tính và khi đó virus không còn khả năng gây nhiễm nữa

HÌNH ẢNH MỘT SỐ LOẠI VIRÚT PHỔ BIẾN
VI RÚT HIV-AIDS

Virus HIV (Human immunodeficiency virus)




Virus cúm gia cầm H5N1



Virus quai bị (Mumps virus)

Virus sởi (Measles virus)

Virus sởi Đức (Rubella virus)


Virus SARS (Severe Acute Respiratory Syndrome)



Virus gây bệnh dại ( Rhabdovirus)



Virus viêm gan B (HBV- Hepatitis B virus)



Virus viêm não Nhật Bản B (Japanese B Encephalitis virus)





Virus sốt xuất huyết Dengue (Dengue fever virus)



Virus bại liệt (Poliomyelitis virus)


Họ Poxviridae
Virus đậu mùa (Pox virus)


Họ Picornaviridae
Virus sốt lở mồm long móng (Foot and mouth disease virus)







THỰC HIỆN :I)Cấu trúc và chức năng của màng tế bào:
Trần Minh Phát
Nguyễn Hoàng Nam
Nguyễn Thị Xuân Thuỷ
II)Các hình thức phân bào ở tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực
Vũ Minh Hiền
Đặng Bích Vân
III) Sự nhân lên và lan truyền của virút:
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Nguyễn Ngọc Nhã Uyên
Tài liệu tham khảo :mạng : www.sinhhocvietnam.com.vn
mạng :www.wikipedia.com.vn
sách giáo khoa sinh học lớp 10
sách tham khảo sinh học lớp 10

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét