Thứ Hai, ngày 24 tháng 8 năm 2009

NGUỒN GỐC SỰ SỐNG - NHÓM 12 - 12B15(08-09)

MỤC LỤC
A.Nguồn gốc sự sống Trang
I/.Lời giới thiệu 3
II/.Tiến hóa hóa học 3
1)Quá trình hình thành các chất hữu cơ đơn giản từ các chất vô cơ 3
Mô tả thuyết của Oparin và Haldane – Thí nghiệm Milơ và Uray 3
2)Quá trình trùng phân tạo nên các đại phân tử hữu cơ 4
Nội dung – Thí nghiệm Fox 4
3) Sự xuất hiện cơ chế nhân đôi 5
a) AND có trước hay ARN có trước? 5
b) Hình thanh cơ chế dịch mã 5
c) Có thể bạn chưa biết 5
IV/.Tiến hóa sinh học 8
1)Mô tả khái quá quá trình tiến hóa sinh học - Thuyết tiến hóa tổng hợp : 8 2) Phân biệt tiến hóa lớn và tiến hóa nhỏ 9 3) Từ 1 tổ tiên chung tạo ra các loài động thực vật trên trái đất hiện nay 9 Đa dạng sinh học 10
V/. Sự phát sinh loài người – Loài vật cao cấp nhất trên trái đất 13
1)Quá trình phát sinh loài người hiện đại 13
2)Các dạng vượn người hóa thạch và quá trình hình thành loài người 16
3) Quê hương của loài người 17
VI/.NgưỜi hiện đại và sự tiến hóa văn hóa 18
B. Các bằng chứng minh họa cho nguồn gốc sự sống 19
I/.Hóa thạch và vai trò của hóa thạch trong ngiên cứu sự phát triển của sinh giới 19 II/.Lịch sử phát triển của sinh giới qua các đại địa chất 21 III/.CÁC KẾT LUẬN (CÁC BIỆN PHÁP VỀ QUÁ TRÌNH SỰ SỐNG) 33






A. NGUỒN GỐC SỰ SỐNG :
I/. LỜI GIỚI THIỆU:
Quá trình tiến hóa của sự sống trên Trái Đất có thể chia thành các giai đoạn : tiến hóa hóa học, tiến hóa tiền sinh học và tiến hóa sinh học. Tiến hóa hóa học là giai đoạn tiến hóa hình thành nên các hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ. Tiến hóa tiền sinh học là giai đoạn hình thành nên các tế bào sơ khai ( protobiont ) và sau đó là hình thành nên những tế bào sống đầu tiên. Tiến hóa sinh học là giai đoạn tiến hóa từ những tế bào đầu tiên hình thành nên các loài sinh vật như ngày nay dưới tác động của các nhân tố tiến hóa.
II/. TIẾN HÓA HÓA HỌC
1) Quá Trình Hình Thành Các Chất Hữu Cơ Đơn Giản Từ Các Chất Vô Cơ:
Trong khí quyển nguyên thủy của trái đất có các khí như CH4, NH3, hay là xianôgenC2H2.Do tác dụng của các tia bức xạ mặt trời, tia tử ngoại........đã làm cho chất vô cơ hình thành nên các hợp chất hữu cơ đơn giản hiđrô cacbua gồm 2 nguyên tố là C&H  hình thành nên các hợp chất có 3 nguyên tố C, H, O, như xacarit, lipit,  tạo ra các hợp chất hữu cơ có 4 nguyên tố C, H, O, N như a.a và các Nu từ các a.amin hình thành nên các protein đơn giản tồi đến các protein phức tạp, từ các Nu hình thành nên các axit nuclêôtit
các chất hữu cơ đó ngày càng phức tạp và trở nên nặng theo nc mưa xuống hòa tan vào nước đại dương.
Quá trình hình thành các hợp chất hữu cơ nói trên dc chứng minh ở phòng thí nghiệm và với hàng loạt TN khác, các nhà khoa học đã tổng hợp được những chất hữu cơ phức tạp, kể cả pôlipeptit & pôlinuclêôtit
a) Mô Tả Thuyết Của Oparin Và Haldane – Thí Ngiệm Milơ Và Uray :
Mô Tả Thuyết Của Oparin Và Haldane:
Năm 1920, hai nhà bác học Oparin(Nga) và Haldane (Anh) đã độc lập cùng đưa ra giả thuyết cho rằng các hợp chất hữa cơ đơn giản đầu tiên trên Trái Đất có thể được xuất hiện bằng con đường tổng hợp hóa học từ các chất vô cơ nhờ những nguồn năng lượng là sấm sét, tia tử ngoại, núi lửa: Bầu khí quyển nguyên thủy không oxi, dưới tác dụng của nguồn năng lượng tự nhiên (tia chớp, tia tử ngoại, núi lửa, . . .) Một số các chất vô cơ kết hợp tạo nên chất hữu cơ đơn giản: axit amin, nuclêôtit, đường đơn, axít amin béo… Các đơn phân kết hợp với nhau tạo thành các đại phân tử.
Thí Ngiệm Miller Và Uray:
Năm 1953, Miller và Uray đã làm thí nghiệm kiểm tra giả thuyết của Oparin và Haldane. Họ tạo ra môi trường các thành phần hóa học giống khí quyển của Trái Đất nguyên thủy trong một bình thủy tinh 5 lít. Hỗn hợp khí CH4, NH3, H2 và hơi nước được đặt trong điều kiện phóng điện liên tục suốt một tuần liền và kết quả các ông đã thu được một số chất hữu cơ đơn giản trong đó có axit amin. Sau thí nghiệm của Miller-Uray, nhiều nhà khoa học khác đã lập lại thí nghiệm này với thành phần các chất vô cơ có thay đổi chút ít và họ đều nhận được các hợp chất hữu cơ đơn giản khác nhau.
Hình ảnh minh họa :








2) Quá Trình trùng phân tạo nên các đại phân tử hữu cơ
Nội Dung – Thí nghiệm Fox :
- Để chứng minh các đơn phân như axit amin có thể kết hợp với nhau tạo nên các chuỗi polipeptit đơn giản trong điều kiện của Trái Đất nguyên thủy (bầu khí quyển nguyên thủy không có ôxi ( hoặc có rất ít ), với nguồn năng lượng là các tia chớp, núi lửa, tia tử ngoại,…) vào những năm 1950, Fox và các cộng sự đã tiến hành thí nghiệm đun nóng hỗn hợp các axit amin khô ở nhiệt độ 150 – 180oC tạo ra được các chuỗi peptit ngắn được gọi là prôtêin nhiệt.
Như vậy, ta có thể kết luận trong những điều kiện nhất định, các đơn phân kết hợp với nhau tạo thành các đại phân tử (một số chất vô cơ kết hợp với nhau tạo nên các chất hữu cơ đơn giản như axit amin, nuclêôtit, đường đơn cũng như các axit béo).



3) Sự xuất hiện cơ chế nhân đôi:
a) ADN có trước hay ARN có trước ?
- Một số bằng chứng khoa học chứng minh rằng ARN có thể nhân đôi mà không cần đến enzim (prôtêin) và do đó có thể xem như ARN đã được tiến hóa trước AND.
- ARN có khà năng nhân đôi CLTN chọn lọc ra các phân tử ARN có khả năng nhân đôi tốt hơn cũng như có hoạt tính enzim tốt hơn làm vật chất di truyền. Sau này, với sự trợ giúp của các enzim, từ ARN tổng hợp nên được phân tử ADN có cấu trúc bền vững hơn và với khả năng phiên mã chính xác hơn nên ADN đã thay thế ARN trong việc lưu trữ và bảo quản thông tin di truyền trong tế bào, còn ARN chỉ làm nhiệm vụ trong quá trình dịch mã.
b) Hình thành cơ chế dịch mã:
- ARN là khuôn để các a. amin liên kết nhau tạo thành chuỗi polipeptit và chúng được bao bọc bởi màng bán thấm cách li với môi trường ngoài
c) Có thể bạn chưa biết : (thầy chắc chắn biết rồi )
Phiên mã (hay sao mã): là quá trình sao chép thông tin di truyền được mã hoá dưới dạng trình tự các nucleotide trên gen thành dạng trình tự các ribonucleotide trên ARN thông tin (mARN) nhờ đó mà tổng hợp những protein đặc thù cho gen.
Dịch mã: Ở sinh vật nhân thực, sau khi mARN được tổng hợp, hoàn thiện, nó sẽ rời khỏi nhân, ra ngoài tế bào chất, làm khuôn mẫu cho quá trình dịch mã.
Ở sinh vật nhân sơ, vì không có màng nhân, nên quá trình phiên mã và dịch mã xảy ra gần như đồng thời.
Trong quá trình dịch mã, mARN liên kết với riboxom. Quá trình dịch mã được thực hiện theo 3 bước:
Hoạt hoá axit amin :
-Dưới tác dụng của enzim, và sử dụng năng lượng, 1 phân tử a.a sẽ liên kết với 1 phân tử tARN tại vị trí xác định, tạo thành phức hệ aa – tARN.
-Ta coi rằng mỗi loại tARN chỉ liên kết với 1 loại a.a; nhưng mỗi loại a.a có thể liên kết với nhiều hơn 1 loại tARN (tính chất tương tự với mã bộ ba)
Dịch mã và hình thành chuỗi polipeptit :
-Tiểu phần bé của riboxom liên kết với mARN, sau đó phân tử tARN mang a.a mở đầu (Met ở nhân thực, f-Met ở nhân sơ) đến. Bộ ba đối mã trên phân tử tARN sẽ liên kết theo nguyên tắc bổ sung với bộ ba mã hoá trên phân tử mARN. Sau đó, tiểu phần lớn của riboxom sẽ liên kết, tạo thành phức hệ mARN-riboxom, bắt đầu quá trình dịch mã.
-Quá trình này còn có sự tham gia của các yếu tố khác (If-I, If-II…)
- tARN mang a.a thứ nhất tới vị trí A (tARN mang Met ở vị trí P có sẵn), trong đó bộ ba đối mã của nó liên kết bổ sung với bộ ba mã hoá tiếp theo (sau vị trí mở đầu) trên mARN.
- Enzim xúc tác hình thành liên kết peptit giữa a.a mở đầu và a.a thứ nhất.
- Tiếp đó, riboxom dịch chuyển 1 nấc trên mARN, khiến các tARN dịch chuyển 1 vị trí:
tARN mang a.a mở đầu -> vị trí E. Liên kết giữa tARN và a.a của nó bị phá vỡ, tARN rời khỏi riboxom.
tARN mang a.a thứ nhất -> vị trí P.
1 tARN khác, mang a.a thứ 2 vào liên kết với bộ ba mã hoá kế tiếp trên mARN.
-Cứ như thế, liên kết peptit được hình thành giữa các a.a theo thứ tự nhất định.
-Quá trình tiếp tục cho tới khi gặp bộ ba kết thúc thì dừng lại.
-Các tiểu phần riboxom tách nhau và rời khỏi mARN, giải phóng chuỗi polipeptit mới được tổng hợp. Axit amin mở đầu rời khỏi chuỗi. Chuỗi polipeptit tiếp tục được hoàn thiện và tạo thành phân tử protein hoàn chỉnh.
Poliriboxom:
Trên mỗi phân tử mARN thường có 1 số riboxom cùng hoạt động, tại các vị trí khác nhau, lần lượt tổng hợp nên các chuỗi polipeptit giống nhau. Nhờ đó, trong 1 khoảng thời gian ngắn, 1 lượng lớn protein có thể được hình thành, đáp ứng nhu cầu của tế bào.
Các riboxom, tARN được tái sử dụng nhiều lần, dùng để tổng hợp nên mọi loại protein trong cơ thể. Còn các mARN sau khi sử dụng thường sẽ bị phân huỷ. Đời sống của 1 mARN cũng là 1 cơ chế điều hoà hoạt động gen.
III/. TIẾN HÓA TIỀN SINH HỌC :
- Các đại phân tử như : lipit, prôtêin, các axit nuclêic,… xuất hiện trong nước và tập trung với nhau thì các phân tử lipit do đặc tính kị nước sẽ lập tức hình thành nên lớp màng bao bọc lấy tập hợp các đại phân tử hữu cơ tạo nên các giọt nhỏ li ti khác nhau. Những giọt này chịu sự tác động của CLTN sẽ tiến hóa dần tạo nên các tế bào sơ khai. ( protobiont)
- Các protopiont nào có được tập hợp các phân tử giúp chúng có khả năng trao đổi chất và năng lượng với bên ngòai có khả năng phân chia và duy trì thành phần hóa học thích hợp của mình thì sẽ được giữ lại và nhân rộng.
- Bằng thực nghiệm, các nhà khoa học cũng đã tạo ra được các giọt gọi là lipôxôm khi cho lipit vào trong nước cùng một số các chất hữu cơ khác nhau. Lipit đã tạo nên lớp màng bao bọc lấy các hợp chất hữu cơ khác và một số lipôxôm cũng đã biểu hiện một số đặc tính sơ khai của sự sống như phân đôi, trau đổi chất với môi trường bên ngoài. Các nhà khoa học cũng tạo ra được các giọt côaxecva có khả năng tăng kích thước và duy trì cấu trúc tương đối ổn định trong dung dịch.
Sau khi tế bào nguyên thủy được hình thành thì quá trình tiến hóa sinh học được tiếp diễn nhờ các nhân tố tiên hóa tạo ra các loài sinh vật như hiện nay.
Có thể bạn chưa biết :
Sự tổng hợp prôtêin trong quá trình hình thành sự sống diễn ra như thế nào? Vai trò của prôtêin trong sự tiến hoá tiền sinh học?
- Dựa trên những thành tựu về hoá học, thiên văn học, viện sĩ Hàn lâm Viện Khoa học Nga A.Ioparin đã đề ra thuyết coaxecva (1936) để giải thích sự hình thành sự sống trên trái đất. Theo ông sự sống đã hình thành ngay trên trái đất bằng con đường hoá học theo hướng phức tạp hoá từ vật chất vô cơ đến vật chất hữu cơ đơn giản, vật chất hữu cơ phức tạp cuối cùng là prôtêin và axit nuclêic. Qúa trình trên diễn ra theo 2 giai đoạn:
1. Sự tiến hoá hoá học
- Bầu khí quyển nguyên thuỷ của trái đất đã có hỗn hợp các chất klhí như CH4, NH3, C2N2, CO và hơi nước chưa có O2 và N2.
- Do tác dụng của nhiều nguồn năng lượng tự nhiên như: tia vũ trụ, tia tử ngoại, tia lửa điện (do sấm sét) CH4 biến đổi thành C2N2 và H2, C2N2 và H2, C2N2 hợp với H2O tạo thành các alđehyt rồi thành các chất tam tố (C, H, O) như gluxit (saccarit) và lipit. Từ gluxit tiếp tục biến đổi thành rượu và axit hữu cơ. Axit hữu cơ hợp vơi N trong C2N2 (hay HCN) tạo thành các chất tứ tố (C, H, O, N) như axit amin, các nuclêôtit. Các axit amin kết hợp với nhau bằng các liên kết peptit tạo thành các phân tử prôtêin đơn giản. Prôtêin đơn giản kết hợp với các chất khác nữa tạo thành prôtêin phức tạp. Các nuclêôtit kết hợp với nhau bằng các liên kết este-phosphat tạo thành các axit nuclêic. Sự tiến hoá hoá học đã diễn ra theo chiều hướng:
C  CH  CHO  CHON  PRÔTÊIN  AXIT NUCLÊIC
- Các chất hữu cơ càng phức tạp càng nặng, chúng theo nước mưa rơi xuống biển và hoà tan trong nước biển.
- Quá trình này đã được chứng minh bằng thực nghiệm bởi H. Urey (1952) và S.Miller (1953) : phóng điện cao thế, rồi sau đó là tia tử ngoại vào một bình cầu chứa hỗn hợp các chất khí CH4, NH3, CO2 hơi nước. Sau 15 ngày các ông đã thu được một số oại axit amin ở đáy bình cầu.
2.Sự tiến hoá tiền sinh học
Có 4 sự kiện đặc biệt :
Sự tạo thành các coaxecva :
Các chất hứu cơcao phân tử hoà tan trong nước biển tạo thành các dung dịch keo. Hỗn hợp các dung dịch keo khác nhau tạo ra hiện tượng đông tụ thành những giọt coaxecva. Coaxecva đã có mầm mống của quá trình trao đổi chất và sinh trưởng. Tuy nhiên, coaxecva chưa phải là vật thể sống, nó mới chỉ là mô hình đàu tiên của vật thể vì chưa có khả năng sinh sản và di truyền.

Sự tạo thành lớp màng kép lipôprotêin.
Dần dần trong quá trình tiến hóa, phía ngoài coaxecva hình thành một lớp màng gồm các phân tử prôtêin và lipit xếp theo một trật tự xác định, phân biệt coaxecva với mội trường và thực hiện trao đổi chất.
Sự xuất hiện hệ enzym :
Có vai trò xúc tác các phải ứng sinh hóa trong coaxecva, làm cho các phản ứng tổng hợp và phân giải các chất hữu cơ xảy ra nhanh chóng và trọn vẹn.
Sự xuất hiện cơ chế tự sao chép
Trong quá trình tiến hoá lâu dài hàng vạn năm, trong coaxecva xuúat hiện quan hệ tương tác giữa prôtêin và axit nuclêic làm cho coaxecva có khả năng sinh sản và di truyền đặc điểm của chúng cho các thế hệ sau. Khi đó coaxecva mới biến thành các vật thể sống đầu tiên.
Ngày nay, hiện tượng trên không còn khả năng xảy ra nữa vì các điều kiện lý hoá của trái đất nguyên thuỷ không còn nữa, sinh vật đã lan tràn trên mặt đất. Gỉa sử nếu có nơi nào đó tổng hợp được chất sống ngoài cơ thể thì cũng sẽ bị phân huỷ ngay bởi các vật thể dị dưỡng. Do đó ngày nay chất sống chỉ được tổng hợp trong các cơ thể sống mà thôi.
TÓM LẠI: Trải qua một thời gian lịch sử rất dài, từ tiến hóa hóa học ----> sinh học, từ côaxecva hình thành những dạng sống đầu tiên có khả năng tự nhân đoi, đổi mới từ cấu trúc chưa cóa tế bào--> dơn bào---> đa bào khoảng 2 tỉ năm đầu của trái đất là giai đoạn tiến hóa hóa học, 2 tỉ năm tiếp theo là tiến hóa sinh học
IV/. TIẾN HÓA SINH HỌC :
1) Mô tả khái quá quá trình tiến hóa sinh học - Thuyết tiến hóa tổng hợp :
Với sự hiểu biết hiện nay về nguồn gốc con người trên trái đất thì Thuyết Tiến Hóa là một sự kiện vững chắc đã được xác nhận bởi nhiều bộ môn khoa học. Thuyết Tiến Hóa mà chúng ta hiểu ngày nay là sự tổng hợp của hàng núi những bằng chứng trong nhiều bộ môn khoa học như Sinh Học, Sinh Hóa Học, Cổ Sinh Vật Học, Nhân Chủng Học, Di Truyền Học, Khảo Cổ Học, Vật Lý Học, Vũ Trụ Học v.v.
Dựa trên sự tổng hợp các thành tựu lý thuyết trong nhiều lĩnh vực như phân loại học, cổ sinh vật học, di truyền học quần thể, sinh thái học quần thể, học thuyết về sinh quyển đã xây dựng nên thuyết tiến hóa tổng hợp bao gồm tiến hoá nhỏ với tiến hoá lớn.
Thuyết tiến hoá tổng hợp :
Được hình thành trong các thập niên 30 đến 50 của thế kỷ XX từ những thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học như: phân loại học, cổ sinh vật học, di truyền học quần thể, sinh thái học, học thuyết về sinh quyển.
Người ta phân biệt 2 loại tiến hoá.
Tiến hoá nhỏ (tiến hoá vi mô)
Là sự biến đổi thành phần kiểu gen của quần thể, do các nhân tố như: quá trình đột biến, quá trình giao phối, chọn lọc tự nhIên và các yếu tố cách ly kết quả là hình thành các loài mới.
Tiến hoá lớn (tiến hoá vĩ mô)
Là quá trình hình thành các nhóm phân loại trên loài như chi, họ, bộ, lớp…
Thuyết tiến hoá Kimura :
Do M.Kimura đề xướng năm 1971 khi phát hiện ra đại đa số các đột biến ở cấp độ phân tử là trung tính.
Ví dụ : khi phân tích 59 mẫu đột biến hêmôglôbin trên hồng cầu ở người trong đó có sự thay thế 1 axit amin này bằng 1 axit amin khác đã thấy có 43 mẫu đột biến không có ảnh hưởng gì đối với cơ thể, ít nhất là ở trạng thái dị hợp.
Từ đó: Kimura nêu ra thuyết tiến hóa ở mức phân tử diến ra hằng ngày sự củng cố ngẫu nhiên nhưng đột biến trung tính không liên quan với tác dụng của chọn lọc tự nhiên.
Tác giả cho rằng đó là nguyên lý cơ bản của sự tiêế hóa ở cấp độ phân tử.
2) Phân biệt tiến hóa lớn và tiến hóa nhỏ :

Tiến hóa nhỏ Tiến hóa lớn
Là sự biến đổi thành phần kiểu gen của quần thể.
- Kết quả hình thành loài mới.
Phạm vi phân bố hẹp
Diễn ra trong thời gian lịch sử tương đối ngắn.
Có thể nghiên cứu bằng thực nghiệm. Là sự biến đổi thành phần kiểu gen của các nhóm trên loài.
Kết quả hình thành các chi, họ, bộ, lớp, ngành mới.
Phạm vi phân bố rộng.
Diễn ra trong thời gian lịch sử lâu dài.
Chỉ nghiên cứu gián tiếp nhờ cổ sinh vật học.
3) Từ tổ tiên chung tạo ra các lòai động thực vật trên trái đất hiện nay :
Thế nào là sự phân ly tính trạng? Nguyên nhân và kết quả của hiện tượng này ở sinh vật ?
Khái niệm:
Từ một dạng tổ tiên ban đầu, trong quá trình sinh sản phát sinh nhiều biến dị cá thể. Do sự chọn lọc diễn ra theo nhiều hướng khác nhau dẫn đến sự hình thành nhiều dạng sinh vật mới khác nhau và khác với tổ tiên ban đầu của chúng giống như từ một gốc cây mọc ra nhiều cành, hiện tượng này gọi là sự phân ly tính trạng.
Nguyên nhân và kết quả
Trong điều kiện nhân tạo:
Từ một dạng tổ tiên hoang dại ban đầu, trong quá trình sinh sản phát triển nhiều biến dị cá thể. Những cá thể mang biến dị có lơị cho con người sẽ được ưu tiên giữ lại và dùng để nhân giống, những biến dị không có lợi cho con người sẽ bị loại bỏ, hạn chế sinh sản. Tuy nhiên nhu cầu và thị hiếu của con người rất phức tạp và nhiều mặt, mỗi người đi sâu khai thác theo một hướng riêng, giữ lại những dạng tốt nổi bật, loại bỏ những dạng trung gian, không thích hợp. Kết quả là từ một dạng ban đầu đã dần dần phát sinh nhiều dạng khác nhau rõ rệt và khác xa với dạng tổ tiên ban đầu của chúng.
Ví dụ: từ 1 loại gà rừng thân nhỏ, làm tổ trên mặt đất, bay xa hơn các nòi hiện tại, con mái mỗi lứa chỉ đẻ 2-3 trứng, do nhu cầu và thị hiếu khác nhau của con người đã hình thành nhiều nòi gà khac nhau như gà chọi, gà cảnh, gà đẻ, gà thịt.
Kết quả : của quá trình phân ly tính trạng là đã hình thành nhiều giống vật nuôi cây trồng trong mỗi loài, xuất phát từ một vài tổ tiên hoang dại.
Trong điều kiện tự nhiên
Con cháu của mỗi đôi sinh vật bất kỳ nào trong tự nhiên cũng đều mang nhiều biến dị cá thể. Do có nhiều biến dị nên chúng có khuynh hướng mở rộng khu phân bố sang các vùng địa lý khác nhau cùng loài thường diễn ra rất khốc liệt. Tại các vùng phân bố địa lý khác nhau, chọn lọc tự nhiên lại xảy ra. Trong quá trình này chỉ những cá thể nào mang những biến dị sâu sắc nhất, thích nghi nhất với môi trường mới được tồn tại phát triển thành các loài phụ. Mới đầu các cá thể giữa các loài phụ còn có thể giao phối với nhau nhưng nếu giữa các loài phụ có yếu tố cách ly (cách ly địa lý, cách ly sinh học) làm chúng không còn giao phối với nhau được nữa, khi đó loài phụ sẽ biến thành loài mới khác nhau, sự tiến hoá diễn ra theo chiều hướng phân hoá trong thời gian lịch sử lâu dài đã làm xuất hiện nhiều loài mới khác nhau từ một loài tổ tiên ban đầu.
Ví dụ : bản thân Đác-Uyn đã tìm thấy 27 loài phụ chim hoạ mi ở quần đảo Galapagos (Trung Mỹ), chúng khác nhau về hình dạng mỏ, chân, màu lông,… nhưng chúng vẫn còn một số đặc điểm giống nhau và giống với một loài chim hoạ mi ở đất liền Trung Mỹ (Ecuador). Nhiều loài phụhiện nay không còn giao phối với nhau nữa và như vậy chúng đã ở trên ngưỡng cửa hình thành loài mới.
Kết quả : bằng lý luận tự nhiên thông qua con đường phân ly tính trạng đã thành công trong việc chứng minh rằng toàn bộ sinh giới đa dạng phong phú ngày nay là kết quả của quá trình tiến hoá từ một nguồn gốc chung .
Hình ảnh của sự đa dạng sinh học :

V/. SỰ PHÁT SINH LOÀI NGƯỜI – LOÀI VẬT CAO CẤP NHẤT TRÊN THẾ GIỚI
1) Quá trình phát sinh loài người hiện đại
a) Các đặc điểm giống nhau giữa người và vượn người:
Về hình thái giải phẫu : *Hình dạng, kích thước cao, không đuôi
* Có 12 đến 13 đôi xương sườn.
* Não bộ to, nhiều nếp gấp, mhiều khúc cuộn
* Có 4 nhóm muộn
* Kích thướng và hình dạng tinh trùng giống nhau. Chu kì kinh nguyệt và thời gian mang thai, quá trình phát triển phôi thai giống nhau.
Về sinh học phân tử : Người và vượn hiện đại có nhiều đặc điểm chung ở mức độ phân tử như AND, protein.
Kết luận : Các bằng chứng về giải phẫu và AND cho thấy loài người và tinh tinh có quan hệ họ hàng gần gũi nhất
b) Các đặc điểm thích nghi nổi bật của người:
- Kích thước não bộ tăng dần( từ 450 cm3 tăng lên 1350 cm3 ở ngườihiện đại) làm tăng khả năng tư duy, ngôn ngữ và tiếng nói.

Xương hàm ngắn dần cùng với biến đổi về răng, thích nghi với việc ăn tạp

Tiêu giảm bộ lông trên bề mặt cơ thể

Gỉảm dần sự khác biệt về kích thước giữa hai giới đực và cái ( loài gôrida con đực gấp hai lần con cái ; tinh tinh gấm 1,3 lần ; người còn 1,2 lần).
c) Các đặc điểm khác nhau giữa người và vượn người:
- Cột sống hình chữ S.
- Xương chậu rộng, tay ngắn hơn chân
- Não ngườii có nhiều nếp nhăn, khúc cuộn, thùy trán phát triển, sọ lớn hơn mặt
- Có lồi cằm
- Tín hiệu trao đổi ở người: có tiếng nói, chữ viết, biết tư duy trừu tượng do võ nảo có vùng cử động nói và hiểu tiếng nói
- Xuất hiện cuộc sống xã hội 1 vợ 1 chồng làm tăng khả năng chăm sóc và dạy dỗ con cái
Những con người của kỉ đệ tứ :
Các loài thuộc họ Người Người vượn Người khôn ngoan
Người khéo léo (Homo habilis)
Ôtstralôpitec Người tối cổ (Homo erectus)
Pitêcăng -trôp Người thượng cổ (Homo sapiens neanderthelensis) Người khôn ngoan tân cổ (Homo sapions fossilis) và người khôn ngoan hiện đại (Homo spapiens sapiens)
Đặc điểm hình thái ở sọ - Dung tích sọ: 600 cm3
- Sọ rất thấp
- Gở trên ổ mắt
- Mắt rộng, do, hình mõm
- Xương hàm dưới to
- Chưa có lồi cằm
- Răng to - Dung tích sọ: 900 cm3
- Sọ thấp, trán vát
Gờ trên ổ mắt: lồi to
- Mặt dô
- Xương hàm dưới to
- Chưa có lồi cầm
- Răng bẻ hơn người khéo léo - Dung tích sọ lớn: 1500 cm3
- Sọ thấp, trán vát
- Gờ trên ổ mắt: lồi to
- Mặt vẫn đỏ
- Chưa có hoặc hơi có lồi cầm - Dung tích sọ lớn: 1300 cm3
- Sọ cao, tròn
- Trán cao và thẳng
Mỏm chũm rất phát triển
- Không có gờ trên ổ mắt
- Mắt nhỏ lại, không dô
- Răng bé lại
- Xương hàm dưới bé lại, có lồi cầm
Niên đại (năm) 3.000.000 700.000 – 200.000 100.000 40.000 10.000
Thời kì khảo cổ Sơ kì thời đại đá cũ Sơ khì thời đại đá cũ Trung lì thời đá cũ Trung kì thời đại – đá cũ Đồ đá giữa
Đồ đá mới
Thời kì băng hà Bibe ?
Đônô?
Gun? Min đen + Ritsơ
Ritsơ + Vuyếc Vuyếc I, II Vuyếc III, IV Vuyếc III, IV
Kỹ nghệ công cụ chủ yếu Kĩ nghệ đá cuội Sen
Asơn
Apbêvina Mutsơtiê Orinăc
Pêrigooc
Xôluytrê Adin
Tacđênoa
2)Các dạng vượn người hóa thạch và quá trình hình thành loài người
Các bằng chứng hóa thạch và ADN đã giúp các nhà khoa học xác định được người và các loài vượn người hiện nay (tinh tinh) chỉ mới tách nhau ra từ một tổ tiên chung cách đây khoản 5-7 triệu năm. Sau khi tách ra từ tổ tiên chung, nhánh vượn người cổ đại đã phân hóa thành nhiều loài khác nhau, trong đó có một nhánh tiến hóa hình thành nên chi Homo. Loài xuất hiện đầu tiên trong chi Homo (H) là loài H.Habilis ( người khéo léo ) đã có bộ não khá phát triển ( 575cm3 ) và biết sử dụng công cụ bằng đá. Từ H.Habilis tiến hóa thành nhiều loài khác trong đó có loài H.erectus ( người đứng thẳng ) – được hình thành cách đây khoản 1,8 triệu năm và tuyệt chủng cách đây khoản 200.000 năm.
Nhiều nhà khoa học cho rằng từ H.erectus đã hình thành nên loài người hiện đại (H.sapiens) cũng như một số loài khác. Tuy nhiên, đến nay chỉ còn loài người hiện đại tồn tại và phát triển, còn các loài người khác đều đã bị diệt vong. Loài H.neanderthalensis (người Nêanđectan) bị loài người hiện đại cạnh tranh dẫn đến tuyệt chủng cách đây 30000 năm.
3) Quê hương của loài người:
Hiện nay có 2 giả thuyết về địa điểm phát sinh loài người. Một giả thuyết mang tên “ra đi từ Châu Phi” cho rằng loài người, H.sapiens, được hình thành từ loài H.erectus tiến hóa thành H.sapiens. Đông Nam Á cũng được xem là cái nôi phát sinh ra loài người.
Năm 2004, các nhà khoa học đã phát hiện ra hóa thạch của loài người lùn nhỏ bé (H.floresiensis) tồn tại cách đây khoản 18000 năm trên một hòn đảo của Inđônêxia. Loài người này chỉ cao khoản 1m và được cho là đã phát sinh từ loài H.erectus.
Hóa thạch cổ nhất của người H.sapiens được phát hiện ở Châu Phi (năm 2003) khoản 160000 năm về trước và ngoài Châu Phi khoản 50000 năm về trước. Các nghiên cứu về ADN ti thể và NST Y của người cùng nhiều bằng chứng hóa thạc khác đã ủng hộ cho giả thuyết loài người hiện đại sinh ra ở Châu Phi rồi phát tán sang các châu lục khác.
































VI/. Người hiện đại và sự tiến hóa văn hóa
Sau khi được hình thành, loài người hiện đại có những đặc điểm nỗi bật với bộ não phát triển, cấu trúc thanh quản cho phép phát triển tiếng nói, bàn tay có các ngón tay linh hoạt giúp chế tạo và sử dụng công cụ,... con người đã có được khả năng tiến hóa văn hóa. Thông qua tiếng nói và chữ viết, con người có thể dạy nhau cách sáng tạo ra các công cụ để tồn tại và không ngừng phát triển mà không cần phải trông đợi vào những biến đổi về mặt sinh học.
So sánh bộ não của người H.sapiens xuất hiện cách đây hàng chục nghìn năm với não của người ngày nay, các nhà khoa học nhận thấy không có sự sai khác về kích thước.
Tuy nhiên, xã hội loài người hiện nay khác xa với xã hội loài người cách đây hàng chục nghìn năm. Con người ngày nay ngày càng ít phụ thuộc vào thiên nhiên, kích thước cơ thể lớn hơn và tuổi thọ cao hơn.
Sự thay đổi này có được nhờ kết quả của tiến hóa văn hóa. Từ chỗ người nguyên thủy chỉ biết sử dụng nhũng công cụ bằng đá thô sơ để tự vệ và săn bắt thú rừng, con người đã biết sử dụng lửa để nấu chính thức ăn cũng như xua đuổi vật dữ. Từ chỗ ở trần và lang thang kiếm ăn, con người đã biết tự tạo ra quần áo, lều trú ẩn. Từ chỗ biết hợp tác với nhau trong việc săn mồi và hái lượm, con người đã chuyển dần sang trồng trọt và thuần dưỡng vật nuôi, dần phát triển nghề nông. Dần dần, làng mạc và đô thị xuất hiện.
Trong vài thế kỉ qua, với sự phát triển của khoa học và công nghệ, thông qua quá trình học tập và trong đời sống, con người đã được cải thiện chưa từng thấy, tuổi thọ được gia tăng đáng kể từ thế hệ này sang thế hệ khác mà không cần có những biến đổi thích nghi nào về mặt thể chất (tiến hóa sinh học).
B/. CÁC BẰNG CHỨNG MINH HỌA CHO NGUỒN GỐC CỦA SỰ SỐNG
I/.Hóa thạch và vai trò của hóa thạch trong ngiên cứu sự phát triển của sinh giới
Hóa thạch là gì?
Hóa thạch là những di tích và di thể (xác) của sinh vật được bảo tồn trong lớp nham thạch, là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của của ngành sinh vật học... Trải qua một thời gian dài tồn tại của Trái đất, đã có rất nhiều sinh vật từng sinh sống. Những sinh vật này sau khi chết, xác hoặc những dấu vết của các họat động sống là những chứng cứ được lưu giữ lại, theo sau một thời gian xác của chúng bị phân hủy (thối rữa), chỉ những bộ phần cứng như vỏ xương hoặc cành cây... được bao bọc bởi các trầm tích vật và trải qua quá trình hóa thạch để trở thành đá, nhưng vẫn giữ lại được những hình thái kết cấu (thậm chí một vài chi tiết nhỏ cấu tạo bên trong) đồng thời những dấu vết hoạt động của những sinh vật thời kỳ đó cũng được bảo lưu như vậy.
Nguồn gốc tên gọi "hóa thạch" trong tiếng Anh, từ "fossil" bắt nguồn từ latinh "fossilis" với nghĩa là "đào lên".
Bằng chứng hóa thạch









Vai trò của các hóa thạch trong nghiên cứu lịch sử phát triển của sinh giới
Hóa thạch cung cấp cho chúng ta những bằng chứng trực tiếp về lịch sự phát triển của sinh giới. Các nhà khoa học vó thể xác định được tuổi của các hóa thạch và qua đó, cho chúng ta biết được loài nào đã xuất hiện trước, loài nào xuất hiện sau cùng như mối quan hệ họ hàng giữa các loài.
Tuổi của hóa thạch có thể được xác định nhờ phân tích các đồng vị phóng xạ có trong hóa thạch hoặc đồng vị phóng xạ có trong các lớp đất đá chứa hóa thạch. Cacbon 14 (14C) có thời gian bán rã khoảng 5730 năm, vì vậy phân tích hàm lượng 14C trong hoá thạch người ta có thể xác địmh được tuổi của hóa thạch lên tới 75000 năm. Nếu chúng ta có thể xác định được tuổi của các lớp đất đá cùng hóa thạch có độ tuổi hành trăm triệu năm, thậm chí hàng tỉ năm.
Fossil (Hóa Thạch): Những phần còn lại của thực vật hay động vật từng tồn tại, thường được bảo quản trong đá
Radioactivity (Phóng xạ): Sự phân hủy của một số hóa chất hiện diện trong một thể không bền. Phóng xạ, một dạng năng lượng đặc biệt, được phát ra đồng thời với sự phân hủy ấy.
Định niên đại đá:
Các lớp đá có thể được đặt theo trật tự bằng cách quan sát những mẫu hóa thạch trong chúng. Nhưng, niên đại chính xác, trong hàng triệu năm, được chỉ ra qua việc nghiên cứu sự phân hủy phóng xạ của các mẫu đá. Khi những nguyên tố cấu thành nên Trái Đất được hình thành, thì tất cả các thành phần đều có mặt. Bây giờ, đá càng cũ thì các nguyên tố phóng xạ càng bị phân hủy nhiều. Do đó, ta có thể xác định tuổi đá thông qua việc quan sát mức độ phân hủy của nghuyên tố phóng xạ.
+ Những phương pháp được dùng để xác định tuổi các lớp đất đá và hóa thạch:
Để xác định tuổi tương đối của các lớp đất đá cũng như tuổi tương đối của các hóa thạch chứa trong đó, người ta thường căn cứ vào thời gian lắng đọng của các lớp trầm tích phủ lên theo thứ tự nông đến sâu.
Để xác định tuổi tuyệt đối (bao nhiêu năm) người ta thường sử dụng phương pháp đồng vị phóng xạ. Sử dụng cacban 14 để xác định tuổi của các hóa thạch có độ tuổi khỏang 75 000 năm. Để xác định các hóa thạch có đó tuổi nhiều hơn, sự dụng urani 238.
+ Thời gian bán rã là:
Thời gian bán rã là thời gian (số năm) qua đó 50% số lượng chất phóng xạ ban đầu bị phân rã. Tỉ lệ phân rã này xảy ra từ từ và không phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất cũng như các điều kiện của môi trường.
+ Căn cứ vào đâu để phân định các mốc thời gian địa chất:
Sự phân định các mốc thời gian trong lịch sử Trái Đất được căn cứ vào những biến đổi lớn về địa chất, khí hậu.

II/.Lịch sử phát triển của sinh giới qua các đại địa chất
1) Hiện tượng trôi dạt lục địa:
Lớp vỏ cuả Trái Đất không phải là một khối thống nhất mà được chia thành những vùng riêng biệt được gọi là các phiến kiến tạo. Các phiến kiến tạo liên tục di chuyển do các lớp dung nham nóng chảy bên dưới chuyển động. Hiện tượng di chuyển của các lục địa như vậy được gọi là hiện tượng trôi dạt lục địa. Có hai mốc thời gian lớn đánh dấu sự trôi dạt làm biến đổi lớn diện mạo của các châu lục. Đó là cách đây khoảng 250 triệu năm toàn bộ lục địa còn được liên kết với nhau thành một siêu lục địa duy nhất trên Trái Đất được gọi là Pangae. Sau đó cách đây khoảng 180 triệu năm, siêu lục địa Pangae lại bắt đầu tách ra thành 2 đại lục Bắc (Laurasia) và đại lục Nam (Gondwana). Về sau các đại lục này lại tiếp tục phân tách thành các lục địa như hiện nay. Các nhà khoa học cho rằng tiểu lục địa Ấn Độ cách đây chừng 10 triệu năm đã liên kết với lục địa Âu-Á làm xuất hiện dãy núi Himalaya cao nhất thế giới. Hiện nay các lục địa vẫn đang trôi dạt. Ví dụ, lục địa Bắc Mĩ đang tách ra khỏi lục địa Âu-Á với tốc độ 2cm mỗi năm. Những biến đổi rất mạnh điều kiện khí hậu của Trái Đất, do vậy có thể dẫn đến những đợt đại tuyệt chủng hàng loạt các loài và sau đó là thời điễm bùng nổ sự phát sinh các loài mới.
















Pangaea:

Bản đồ Pangaea
Pangaea (từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là "toàn bộ đất đai") được Bách khoa Toàn thư Việt Nam gọi là Toàn Lục Địa[1] hay Toàn Đại Lục[2], là siêu lục địa đã từng tồn tại trong đại Trung Sinh (Mesozoic) thuộc liên đại Hiển Sinh, trước khi quá trình trôi dạt lục địa tách nó ra thành các lục địa. Tên gọi này được Alfred Wegener đặt năm 1915. Khi các lục địa lần đầu tiên tạo ra Pangaea khoảng 300 triệu năm trước, các dãy núi đã bắt đầu hình thành, và một số dãy núi vẫn còn tồn tại đến ngày nay, chẳng hạn như các dãy núi Appalaches, Atlas, và Ural. Phần đại dương bao quanh Pangaea có tên gọi là Panthalassa. Pangaea vỡ ra khoảng 180 triệu năm trước.
Pangaea là vùng đất có dạng hình chữ C, trải rộng ngang qua đường xích đạo. Phần chứa nước trong lòng chữ "C" có tên gọi là biển Tethys. Vì Pangaea rất rộng lớn, nên khí hậu sâu trong đất liền rất là khô vì thiếu mưa. Do là một lục địa rộng lớn nên các loài động vật trên đất liền tự do di cư theo mọi hướng từ cực Nam tới cực Bắc và ngược lại.
Lớp phủ phía dưới lòng Pangaea vẫn còn rất nóng và có xu hướng trồi lên trên. Do kết quả của sự kiện này, châu Phi đã cao hơn các lục địa khác vài chục mét.

Sự trôi dạt của các lục địa
Pangaea có lẽ không phải là "siêu lục địa" đầu tiên. Người ta tin rằng Pannotia đã được hình thành trước đó, vào khoảng 600 triệu năm trước và phân chia ra khoảng 550 triệu năm trước. Ngoài ra, Rodinia đã được hình thành khoảng 1.100 triệu năm trước và tách ra vào khoảng 750 triệu năm trước.
Trong kỷ Jura, Pangaea tách ra thành hai phần: phần phía nam là Gondwana và phần phía bắc là Laurasia.
Gondwana khi đó bao gồm châu Nam Mỹ, châu Phi, châu Nam Cực, Úc, Tân Guinea, Tân Tây Lan, Ấn Độ, Madagasca và tiểu lục địa Ả Rập ngày nay còn Laurasia bao gồm châu Âu, châu Á (trừ Ấn Độ và tiểu lục địa Ả Rập) và châu Bắc Mỹ ngày nay
2)Sinh vật trong các đại địa chất
Trái Đất liên tục biến đổi trong quá trình lịch sử hình thành và tồn tại khiến cho bộ mặt của sinh giới cũng liên tục biến đổi theo. Các nhà địa chất học chia lịch sử của Trái Đất thành 4 giai đoạn chính đượnc gọi là các đại địa chất. Đó là đại tiền Cambi, đại Thái cổ, đại Trung sinh và đại Tân sinh. Các đại địa chất lại được chia nhỏ thành các kỉ. Ranh giới giữa các đại hoặc các kỉ thường là giai đoạn có những biến đổi địa chất của Trái Đất khiến cho sinh vật bị tuyệt chủng hàng loạt và sau đó là sự bắt đầu một giai đoạn tiến hóa mới của những sinh vật sống sót. Các đại thường có các đặc điểm riêng về sự phát triển của sinh giới. Ví dụ, đại Tân sinh đôi khi còn được gọi là kỉ nguyên của bò sát vì vào thời kì này có rất nhiều loài bò sát phát triển, trong đó có các bò sát khổng lồ như khủng long.
Bảng 1 cho thấy thời gian tồn tại của các đại địa chất với các đặc điểm về khí hậu cùng các sự kiện chính trong lịch sử tiến hóa của sự sống. Các lục địa trên Trái Đất luôn luôn di chuyển tách nhau ra rồi lại sáp nhập lại làm khí hậu của Trái Đất biến đổi theo nên sự tiến hóa của sinh vật cũng biến đổi.
Ví dụ: cách đây 250 triệu năm, tất cả các phiến kiến tạo liên kết với nhau thành một siêu lục địa duy nhất trên Trái Đất. Điều này dẫn đến khí hậu Trái Đất bị biến đổi mạnh. mực nước biển rút xuống, khí hậu ở trung tâm siêu lục địa trở nên khô hạn hưon khiến hàng loạt các sinh vật bị tuyệt chủng. Sau đo vào thời kì đại tân sinh cấch đây khoảng 180 triệu năm các lục địa lại tách nhau ra khiến cho khí hậu thay đổi mạnh, làm cho sinh giới phải tiến hóa thích nghi với điều kiện sống mới. Sự trôi dạt của các lục địa có thể gây ra các trận động đất, sóng thần, núi lửa phun trào cũng như hìn thành các ngọn núi trên đất liền hay các đảo ở đại dương ở khu vực giáp ranh của các phiến kiến tạo.
Bảng 1. Các đại địa chất và sinh vật tươn ứng
Đại Kỉ Tuổi (triệu năm cách đây) Đặc điểm địa chất, khí hậu
Sinh vật điển hình
Tân sinh Đệ tứ 1,8 Băng hà. Khí hậu lạnh, khô Xuất hiện loài người
Đệ tam 65 Các đại lục gần giống hiện nay. Khí hậu đầu kỉ ấm áp, cuối kỉ lạnh. Phát sinh các nhóm linh trưởng. Cây có hoa ngự trị. Phân hóa các lớp Thú, Chim, Côn Trùng
Trung sinh Krêta 145 Các đại lục bắc liên kết với nhau. Biển thu hẹp. Khí hậu khô. Xuất hiện thực vật có hoa. Tiến hóa động vật có vú.
Cuối kỉ tuyệt diệt nhiều sinh vật, kể cả bò sát cổ
Jura 200 Hình thành 2 đại lục Bắc và Nam. Biển tiến vào lục địa. Khí hậu ấm áp Cây Hạt trần ngự trị. Bò sát cổ ngự trị. Phân hóa chim
Triat (Tam điệp) 250 Đại lục chiếm ưu thế. Khí hậu khô Cây Hạt trần ngự trị. Phân hóa bò sát cổ. Cá xương phát triển. Phát sinh thú và chim
Cổ sinh Pecmi 300 Các đại lục liên kết với nhau. Băng hà. Khí hậu khô, lạnh Phân hóa bò sát. Phân hóa côn trùng. Tuyệt diệt nhiều động vật biển
Cacbon ( Than đá ) 360 Đầu kỉ ẩm và nóng, về sau trở nên lạnh và khô Dương xỉ phát triển mạnh. Thực vật có hạt xuất hiện. Lưỡng cư ngự trị. Phát sinh bò sát
Đêvôn 416 Khí hậu lục địa khô hanh, ven biển ẩm ướt. Hình thành sa mạc. Phân hóa cá xương. Phát triển lưỡng cư, côn trùng
Silua 444 Hình thành đại lục. Mực nước biển dâng cao. Khí hậu nóng và ẩm Cây có mạch và động vật lên cạn
Ocđôvic 488 Di chuyển đại lục. Băng hà. Mực nước biển giảm, khí hậu khô Phát sinh thực vật. Tảo biển ngự trị. Tuyệt diệt nhiều sinh vật
Cambri 542 Phân bố đại lục và đại dương khác xa hiện nay. Khí quyển nhiều CO2 Phát sinh các ngành động vạt. Phân hóa tảo
Nguyên sinh 2500 Động vật không xương sống thấp ở biển. Tảo.
Hóa thạch động vật cổ nhất.
Hóa thạch sinh vật nhân thực cổ nhất. Tích lũy nhiều ôxi trong khí quyển
Thái cổ 3500 Hóa thạch sinh vật nhân sơ cổ nhất.
4600 Trái Đất hình thành.

Khung niên đại tiến hóa về sinh giới
Niên đại
(Triệu năm trước) Đại
Kỉ
Thời kì
Sinh giới
0,01 Tân sinh
Kainozoi Đệ tứ
Quaternary Hiện đai
Holoxen Nông nghiệp phát triển (trồn trọt, chăn nuôi) tạo điều kiện để phát triển nghệ thuật, khoa học – kĩ thuật
0,04

0,4

1,0

1,8 Cánh tân
Pleistonxen - Xuất hiện người hiện đại Sapien
- Xuất hiện người cổ Sapien: Nêandectan
- Australopitec cuối cùng tiêu vong
- Băng hà. Homo habilis tiến hóa thành Homo erectus
5,3


23,7


36,6

57,8

66,4 Đệ tam
Tertiary Neogen
+ Plioxen

+ Mioxen


Paleogen
+ Oligoxen
+ Eoxen

+ Paleoxen - H.habilis gần 3 triệu năm. Austral
pitec loại hình thành afarensis gần 4triệu năm
- Các khỉ lớn bậc cao xuất hiện phong phú từ đó tách ra các hominit

- Động vật có vú hiện đại bao gồm 1 số khỉ lớn
- Tách ra 2 dòng: Khỉ tân lục địa và cựu lục địa
- Thích nghi hình tia của nguyên hầu. Động vật có vú, chim và 1 số côn trùng phát phồn thịnh
144





202

248 Trung sinh
Mesozoi Creta





Jura

Trias - Nguyên hầu đầu tiên. Cuối Creta chừng 70 triệu năm trước 1 tiểu hành tinh va đập vào Trái Đất tiêu diệt số lớn thằn lằn cổ. Thực vật hạt kín phát triển phong phú
- Thằn lằn cổ thống trị Trái Đất. Xuất hiện động vật có vú và chim đầu tiên.
- Phát sinh thằn lằn cổ đầu tiên (dinosaurs). Thực vật trần phồn thịnh.
186

360


406

438


505


600 Cổ sinh
Paleozoi Pecmi

Cacbon


Đevon

Silua


Ôđôvic

Cambri - Thích nghi hình tia và lan tràn bò sát
- Bò sát đầu tiên. Lưỡng cư phồn thịnh. Rừng phát triển rộng lớn tạo ra trầm tích than và dầu mỏ. Phát sinh cây có hạt
- Lưỡng cư và côn trùng đầu tiên. Cá Phồn thịnh
- Chiếm lĩnh trên cạn bởi chân khớp (arthropods) và thực vật có mạch
- Động vật có xương sống đầu tiên: cá không hàm. Tảo biển nảy nở
- Hóa thạch về động vật không xương sống biển
700

1500

2500

3500

3800

4600 Tiền Cambri
(Precambrian)
+ Nguyên sinh
(Proterozoi)
+ Thái cổ
(Arkei) - Giới Thực vật và Động vật bắt đầu xuất hiện
- Tế bào eukaryot đầu tiên do sự kết hợp các vi khuẩn và các prokaryot
- Oxi do quang hợp tạo ra, tỏa rộng trong khí quyển
- Tế bào vi khuẩn phát triển tạo thành hóa thạch
- Bắt đầu sự sống với các tế bào prokaryot
- Hành tinh Trái Đất hình thành với những mảnh tan vỡ của thiên thạch lẫn vào nham thạch trên thạch quyển


Sinh vật qua các thời kì

3) “Tám” về khủng long :


Khủng long cha chăm con
Sau khi nghiên cứu hóa thạch của 3 loài khủng long cỡ trung, các nhà khoa học thuộc Đại học bang Montana (Mỹ) kết luận khủng long đực chịu trách nhiệm canh chừng tổ và ấp trứng chứ không phải khủng long cái.
Ba loài trên là Troodon, Oviraptor và Citipati, sống cách đây khoảng 75 triệu năm và thuộc họ theropod, loài khủng long ăn thịt vốn bao gồm cả khủng long bạo chúa khổng lồ.
Trong báo cáo công bố trên chuyên san Science, các chuyên gia cho biết hành vi chăm con như trên hiện vẫn tồn tại ở một số loài chim. Trước đó, giới khoa học cho rằng chim phát triển từ những loài khủng long nhỏ, có cánh, tồn tại cách đây hơn 150 triệu năm.
Trong số những loài có vú và bò sát, không đến 5% loài có con đực tham gia vào việc chăm sóc hậu duệ. Tình trạng cha và mẹ cùng tham gia chăm sóc con cái xuất hiện trong hơn 90% loài chim.




Động vật hóa thành thực vật

Đó là trường hợp rất kỳ lạ của loài ốc biển có tên Elysia chlorotica. Loài ốc này sử dụng rong biển làm thực phẩm. Nó ăn rong biển nhưng không tiêu hóa hoàn toàn mà giữ lại chất diệp lục tố.
Chất diệp lục sẽ làm cho cơ thể của ốc Elysia chlorotica thành màu xanh để hòa hợp với môi trường sống. Ăn càng nhiều rong thì màu xanh càng đậm hơn. Đến lúc đó ốc có thể nhịn ăn vài tháng những vẫn sống, nhờ nước và năng lượng mà diệp lục đã chuyển hóa qua ánh sáng.
Các nhà khoa học cho rằng sau một thời gian tiến hóa thì ốc Elysia chlorotica có thể giữ lại một số gien của rong biển, trở thành động vật sống nhờ năng lượng mặt trời. Hay nói cách khác, đây là sự chuyển đổi kỳ lạ từ động vật sang thực vật
.

Phát hiện hóa thạch sinh vật bốn chân nguyên thủy nhất
( 11:18:24 - 26/06/2008 )


Minh họa về sinh vật mới được tìm thấy. Ảnh: BBC.
Các nhà khoa học đã khai quật được một cái sọ của sinh vật bốn chân cổ nhất trong lịch sử, trong lớp đá ở Latvia. Mẫu vật nguyên vẹn này có đặc điểm trung gian giữa cá và động vật đất liền.

Sinh vật có vẻ ngoài dữ tợn này có thể đã bơi trong các vùng nước lợ, có chiều dài khoảng một mét và ăn những con cá khác, nhóm nghiên cứu cho biết.

Nó có cơ thể giống như cá nhưng cái đầu lại là của một sinh vật thích nghi với đất liền hơn là dưới nước.

"Nếu bạn nhìn nó từ xa, trông nó giống như một con cá sấu nhỏ, nhưng nếu lại gần, bạn sẽ thấy một cái vây trên lưng nó", Per Ahlberg, giáo sư về sinh học tiến hóa tại Đại học Uppsala ở Thụy Điển, nói.

Giới khoa học từ lâu đã thừa nhận rằng rất cả các động vật đất liền có xương sống (bao gồm cả con người) là hậu duệ của một nhóm cá nhỏ, rời bỏ nước lên cạn khoảng 365 triệu năm trước.

Sinh vật này được xem là một mốc quan trọng trong hành trình tiến hóa chuyển từ nước lên cạn của các loài.
Phát hiện điểm hóa thạch khủng long lớn nhất ở Trung Quốc
( 07:56:34 - 02/01/2009 )




Các nhà khoa học ở Trung Quốc cho biết họ vừa phát hiện điểm hóa thạch khủng long ở phía đông Trung Quốc có thể là bộ sưu tập hóa thạch khủng long lớn nhất từng được tìm thấy.
Các nhà nghiên cứu, từ Viện Khoa học Trung Quốc, nói họ khai quật được 7.600 hoá thạch khủng long từ Tháng Ba ở tỉnh Sơn Đông.
Hầu hết xương khủng long có từ cuối kỷ Creta, là khoảng thời gian khủng long tuyệt chủng.
Các nhà khoa học hy vọng phát hiện đó sẽ giúp giải thích nguyên nhân khủng long tuyệt chủng.
“Thành phố khủng long”
Chư Thành ở tỉnh Sơn Đông được địa phương gọi là “thành phố khủng long” và là địa điểm của một số phát hiện quan trọng từ những năm 1960.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu nói một địa điểm hóa thạch mới được phát hiện trong quá trình khai thác mỏ đầu năm 2008 thậm chí quan trọng hơn.
Khoảng 3000 hoá thạch khủng long được khai quật từ một hầm mỏ chỉ dài vài trăm mét và hàng nghìn xương khủng long khác được khai quật tại một số địa điểm gần đó.
Giáo sư Triệu Tây Tiến (Zhao Xijin), nhà cổ sinh vật học phụ trách việc khai quật, nói với phương tiện truyền thông quốc gia Trung Hoa: “nhóm hóa thạch khủng long được phát hiện đó hiện là tập hợp lớn nhất được phát hiện trên thế giới về mặt diện tích”.
Chi tiết đầy đủ các phát hiện đó hiện chưa được công bố. Nhưng truyền thông Trung Quốc đưa tin là có hoá thạch của khủng long tyrannosaurus (loại khủng long có chân ngắn và đuôi rất dài) và loài khủng long ankylosaurus cũng như là khủng long mỏ vịt lớn nhất từng được khai quật.
Nguyên nhân tuyệt chủng :



Ông Triệu nói phát hiện ra nhiều dấu tích khủng long trong một khu vực nhỏ như vậy có ý nghĩa rất quan trọng.
“Các phát hiện này sẽ góp phần vào nghiên cứu điều bí ẩn trong sự tuyệt chủng của khủng long”, ông nói.
Thông tin chi tiết về các hóa thạch sẽ được đăng trên các báo khóa học cuối năm 2009.
Tuy nhiên, một nhà cổ sinh vật học hàng đầu, Tiến sĩ Paul Barrett, từ Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên của London (Anh), nói với BBC rằng tuyên bố phát hiện này là “phát hiện lớn nhất thế giới” có vẻ đáng tin.
Việc khai quật hiện bị ngưng lại vì mùa đông những sẽ được tiếp tục khi thời tiết ấm hơn. Các nhà khoa học nói, họ hy vọng phát hiện thêm nhiều dấu tích của khủng long hơn nữa.
Quan chức địa phương ở tỉnh Sơn Đông đang lập kế hoạch tạo dựng một công viên hóa thạch trong khu vực này.
Bò sát bay khổng lồ chén cả khủng long
( 08:03:11 - 29/05/2008 )
Ngay cả với biệt danh Khủng long bạo chúa, bạn cũng chưa chắc đã an toàn trước những con bò sát bay cổ đại. Chúng có thể ăn thịt các con T. Rex mới sinh và những loài khủng long cạn bé nhỏ khác.
Một nghiên cứu mới tiết lộ một nhóm bò sát bay sống trong kỷ nguyên của khủng long khoảng 230 đến 65 triệu năm trước không bắt mồi khi đang bay, mà quặp chúng trên mặt đất.


Những con bò sát bay Quetzalcoatlus đi bộ và túm lấy những con khủng long con để ăn thịt. Ảnh: LiveScience.
Cho đến nay, các nhà cổ sinh vật học vẫn vẽ chân dung của những con thằn lằn có cánh pterosaurs như là những kẻ kiếm ăn khi đang bay là là mặt đất, giống như cách mà mòng biển vẫn bắt cá ngày nay. Nhưng phát hiện mới công bố không nhất trí như vậy.
"Theo giả thuyết của chúng tôi, bay về cơ bản là một cách di chuyển. Chúng sử dụng việc bay để đi từ điểm A đến B. Còn phần lớn cuộc sống của chúng, khi kiếm ăn và sinh sản, đều được thực hiện trên mặt đất, chứ không phải trên không", Mark Witton, đồng tác giả từ Đại học Portsmouth ở Anh nói.
Nhóm của Witton rút ra điều này từ việc phân tích hóa thạch của một nhóm pterosaurs không răng có tên gọi azhdarchid - nhóm có kích cỡ trung bình lớn hơn nhiều những con pterosaurs khác.
Chẳng hạn, một trong những loài lớn nhất của nhóm, Quetzalcoatlu, nặng tới 250 kg với sải cánh hơn 10 mét và chiều cao tương đương với hươu cao cổ.
50 phần trăm hóa thạch của chúng tìm thấy trên đất liền. Các đặc điểm khác của xương, như chân dài và cổ không linh động, cũng không phù hợp với một kẻ kiếm ăn theo cách bay là là.
"Tất cả các chi tiết về hình thái cơ thể và môi trường mà chúng sống cho thấy chúng kiếm sống bằng cách đi bộ trên mặt đất, tìm kiếm và vồ lấy con mồi", các tác giả nói.
(Theo LiveScience, VnExpress)

III/.CÁC KẾT LUẬN (CÁC BIỆN PHÁP VỀ QUÁ TRÌNH SỰ SỐNG)
1) LỊCH SỬ HỌC THUYẾT TIẾN HÓA:
Thuyết tiến hóa của Darwin: 150 năm tuổi
Cách đây 150 năm, nhân loại lần đầu tiên đã được biết tới thuyết tiến hóa muôn loài của nhà nghiên cứu sinh học người Anh Charles Darwin. Từ đó đến nay, không ít người đã muốn bác bỏ học thuyết này.
Theo hai tác giả Georgi Absaliamov và Vladimir Kriuchkov viết trên tạp chí Nga Itogi số 29 ra ngày 14/7/2008, trong các công trình nghiên cứu theo hướng đó, lắm khi người ta lầm tưởng công trình vĩ đại của Darwin với học thuyết về sự tiến hóa của con người từ loài vượn. Thực ra, đó là những học thuyết khác nhau.
Mùa hè năm 1858 tại trung tâm London, có hai quý ông đã tỏ ra rất lịch thiệp với nhau khi tranh luận: "Thưa ngài, tôi sẽ chỉ phát biểu sau khi ngài nói xong…". Nhà tự nhiên học Alfred Wallace trình bày công trình nghiên cứu còn khiêm nhường của mình về nguồn gốc muôn loài, kết quả của nhiều năm quan sát đời sống của hệ động vật ở Malaysia trước một uy tín lớn trong lĩnh vực tự nhiên học Charles Darwin.
Bản thân Darwin trong những ngày đó vừa hoàn thành công trình với dung lượng ba tập của mình với cực kỳ nhiều thí dụ về các dạng khác nhau của sự sống trên khắp thế giới. Nếu một ý tưởng nào đó cùng một lúc nảy sinh trong những cái đầu khác nhau thì hiển nhiên là nó rất xứng đáng để chúng ta quan tâm.
Hai nhà thực nghiệm Popov ở Nga và Marconi ở Italia đã chẳng từng không hẹn mà lại độc lập sáng chế ra radio. Thế nhưng, trong trường hợp thuyết tiến hóa, tình hình lại khác. Darwin và Wallace không phải là những người đầu tiên quyết định lên tiếng về sự biến dị của muôn loài.
Trước họ hơn nửa thế kỷ, nhà bác học Thụy Điển Carl von Linné đã đưa con người vào bảng xếp thực bậc của mình - về thực chất, ông này đã coi con người cũng là một dạng động vật sinh tồn trên trái đất.
Nhà sinh học người Pháp Jean-Baptiste Lamarck đã không hề hoài nghi gì về chuyện một số loài động vật này xuất thân từ một số loài khác, nhưng đã không kịp nghiên cứu kỹ càng quá trình di truyền những dấu hiệu mới.
Sự sống sót của những loài thích hợp nhất (survival of the fittest) - thuật ngữ này lần đầu tiên được triết gia người Anh Herbert Spencer (1820-1903) đưa ra trong tác phẩm "Nguyên lý sinh vật" năm 1864. Spencer đã mở rộng sự tiến hóa sang cả các lĩnh vực xã hội học và đạo đức học nhưng học thuyết của cá nhân ông lại mang quá nặng tính cơ khí nên không được công nhận thích đáng.
Ngay trong nửa đầu thế kỷ XIX, bản thân từ "tiến hóa" đã không còn làm ai kinh ngạc nữa. Nhà khoa học Anh Charles Lyell (1797-1875) đã là người lập nên bộ môn niên đại địa chất, còn nhà tự nhiên học lừng danh người Pháp George-Léopold Cuvier (1769-1832) đã lập nên ngành Cổ sinh vật học và cho trưng bày ở Paris trước công chúng những bộ xương hóa thạch của nhiều loài động vật lạ lùng chưa từng ai nhìn thấy.
Không có ai còn hoài nghi về sự biến đổi của thế giới, các cuộc tranh luận quyết liệt chỉ diễn ra xung quanh những nguyên nhân dẫn tới các hiện tượng đó và "tính mục đích" của chúng.
Cuộc tranh luận về quyền ưu tiên đã được giải quyết đúng trong tinh thần giáo dục Ănglê. Cũng trong năm 1858 đáng nhớ đó, bản báo cáo tại kỳ họp của Hội Động vật học Linné đã được coi như một công trình chung của Darwin và Wallace.
Thế nhưng, theo yêu cầu của chính cộng đồng khoa học này, Darwin vào đầu năm 1859 đã cho in "Các trích đoạn" mà hiện nay được biết tới dưới cái tên kinh điển "Nguồn gốc muôn loài bằng con đường chọn lọc tự nhiên".
Không có chuyện gì bất thường xảy ra. Công chúng đã đón nhận công trình này một cách đầy thiện chí. Những tai tiếng chỉ bùng nổ về sau, khi xuất bản cuốn sách "Nguồn gốc con người và chọn lọc tình dục", nhưng đó đã là một câu chuyện hoàn toàn khác.
Đã 150 năm trôi qua. Liệu đã đủ để hoàn chỉnh một học thuyết khoa học? Trong quá trình phát triển các bộ môn khoa học thường ghi nhận những khoảng thời gian hoàn toàn khác. Giữa Pythagoras và Euclid là khoảng cách 300 năm. Và sau họ, khoảng cách thời gian dẫn tới hình học của Riemann và Lobachevsky đã là hơn một nghìn rưỡi năm.
Người Sumer cổ đại và người Ai Cập đã từng quan sát đường chuyển động của các vì tinh tú nhưng để tính toán quỹ đạo của chúng thì phải chờ tới thế kỷ XVII, khi có Johanes Kepler và Yoganna Kevlepa và Isaac Newton… Trong giới trí thức hiện đại đôi khi cũng có những vị học đòi buông lời cho rằng, học thuyết của Darwin bây giờ đã bị bác bỏ rồi.
Thực ra, không phải như vậy: học thuyết của Darwin đã bị bác bỏ hoàn toàn không phải "bây giờ" mà ngay từ năm 1858 xa xôi - và đó là lần bị bác bỏ đầu tiên. Lần thứ hai bị bác bỏ là vào năm 1859; lần thứ ba - vào năm 1860 v.v… Hầu như năm nào cũng có người lôi học thuyết của Darwin ra để bác bỏ!
Tại Mỹ cho tới hôm nay vẫn diễn ra liên miên các vụ kiện của các bậc phụ huynh chống lại những giáo viên và ban giám hiệu những trường phổ thông về việc giảng dạy thuyết tiến hóa. Nhìn từ góc độ này, khoảng thời gian 150 năm có vẻ như đã đủ dài. Thế nhưng, cuộc tranh luận đó đã đủ kéo dài chưa?
Trong số những người đầu tiên bác bỏ thuyết tiến hóa có… Karl Marx! Năm 1859, Marx đã viết cho Friedrich Engels rằng, Darwin đơn giản đã nhìn thấy trong thế giới động vật những thói tục gần gụi với ông của giới quý tộc Victoria đã thối rữa.
Sau đó, Marx đã không quan tâm tới chủ đề này nữa. Nhưng người bạn chiến đấu thân thiết của Người, Engels, lại có ý kiến riêng khác thế. "Nguồn gốc gia đình, sở hữu tư nhân và nhà nước" của Engels là một cuốn sách rất có giá trị.
Đó là một công trình rất ủng hộ Darwin và trong đó khái niệm tiến hoá được nhắc tới một cách tự nhiên và hiển nhiên. Trong số những ý tưởng rất thú vị và giá trị ở cuốn sách này có thể nhắc tới một lập luận hết sức hay. Trong quá trình trưởng thành thủy tổ của con người, sự gia tăng não bộ diễn ra kèm theo với:
a) việc chuyển sang ăn thịt.
b) việc nấu chín thực phẩm.
Sinh thời, Engels không bao giờ nhận được các hợp chất sinh học hay hóa học thường xuyên nên hậu thế chỉ có thể suy đoán về việc những điều mà Engels đã viết là sự giác ngộ nhờ ai đó mách bảo hay do linh tính khoa học vĩ đại của Người?
Trong bất cứ trường hợp nào, tới cuối thế kỷ XX hai luận điểm trên đã trở thành những chân lý hiển nhiên cho sinh viên năm thứ nhất khoa sinh học. Không thể không biết thêm rằng, tác phẩm "Nguồn gốc gia đình, sở hữu tư nhân và nhà nước" được xuất bản lần đầu một năm sau khi Marx qua đời…
Nhìn nhận một cách công bằng, những người phản biện Darwin cũng có những lập luận không phải là không nghiêm túc. Cơ chế chọn lọc tự nhiên cần tới những khoảng thời gian rộng dài. Để những cánh rừng lá bản thế chỗ những cánh rừng lá kim, cần tới không dưới trăm năm để tạo nên các tán cây và thay đổi thổ nhưỡng.
Để trong đàn hươu cao cổ (đối tượng nghiên cứu yêu thích của Lamarck) có đại đa số những con hươu thực sự cao cổ, cần tới không chỉ một thế hệ tiến hóa. Thế nhưng, liệu thiên nhiên đã có đủ khoảng thời gian dài dằng dặc cần thiết như thế không? Không, bởi lẽ thế giới vẫn còn quá trẻ…
Lại còn những câu chuyện khác nữa không hẳn đã có lợi cho Darwin. Năm 1866, nhà sinh học và thực vật học người Áo Gregor Mendel đã xác định hoàn chỉnh các nguyên tắc phân bổ các dấu hiệu di truyền (thuật ngữ gen về sau mới xuất hiện). Sự chọn lọc tự nhiên theo kiểu của Darwin hoàn toàn không thể xếp vào các thí nghiệm rất dễ tiến hành, đơn giản, hiển nhiên mà Mendel đã làm với đậu Hò Lan.
Trong quá trình phát triển của ngành nghiên cứu di truyền đã có một giai đoạn ngắn suy thoái (các thí nghiệm đã "mất điện" đối với các loài thực vật tự thụ phấn) nhưng từ sau năm 1900, khó khăn này đã được khắc phục.
Và thêm một lần thuyết tiến hoá lại bị phê phán dữ dội. Chỉ tới những năm 30-40 của thế kỷ trước, các nhà bác học mới kết nối được hai học thuyết này. Đúng, sự chọn lọc cả tự nhiên lẫn nhân tạo đều là chọn lọc đột biến. Con đường đi tới chân lý mới gian khó làm sao!
Giữa những trở ngại khách quan còn có chỗ dành cho sự không tiếp nhận về mặt đạo lý đối với các quy luật tiến hóa. Bởi lẽ, sự chọn lọc tự nhiên có thể có hai dạng. Hoặc là thành công nhân giống của những loài xuất chúng (điều rất dễ hiểu), hoặc là sự tàn lụi của những loài yếu đuối. Chọn lọc tự nhiên - đó không hẳn đã là thắng lợi của con mạnh, mà luôn là sự bị đào thải thẳng thừng của những con yếu. Quy luật của thiên nhiên cực kỳ khắc nghiệt và không dễ chấp nhận.
Cho tới hôm nay vẫn còn một mâu thuẫn chưa được khắc phục. Sự đối kháng quyết liệt trong quan điểm của những người theo thuyết thần tạo luận (creationism) và những người theo thuyết tiến hóa đã luôn tồn tại. Nhưng bất ngờ trong vòng 15-20 năm gần đây đã lại bùng lên với một sức mạnh đối kháng mới.
Trước đây, người ta vẫn cho rằng, các vấn đề liên quan tới tín ngưỡng (và cả sự khoan dung về tín ngưỡng) chỉ là chuyện của các cá nhân. Như vẫn nói, đó chỉ là chuyện riêng tư. Trong thời hiện đại không ai xử những kẻ dị giáo trên giàn thiêu và cũng không ai phát động những cuộc chiến tranh tôn giáo.
Vậy tại sao lại có vòng sóng xung đột hiện nay? Các tôn giáo thế giới thông qua những đại diện cao cấp nhất của mình đã uổng công trong việc tiến hành hòa giải các bên đối kháng. Các nhà thờ Chính giáo và Công giáo luôn luôn tuyên bố về việc họ công nhận thuyết tiến hóa của thiên nhiên và điều đó không mâu thuẫn với ý Chúa.
Có thể, thế giới đã trở nên phức tạp hơn trước nhiều? Con người hiện đang gặp khó khăn trong việc tiêu hóa các nguồn thông tin khổng lồ nên lại muốn những điều gì đó giản đơn hơn. Trong khi đó, thuyết tiến hóa về bản chất của nó rất phức tạp và ngày càng trở nên phức tạp hơn. Bởi lẽ, sự tích lũy những thông tin mới luôn diễn ra như thác lũ…
Đối với rất nhiều người vẫn còn không ít câu hỏi. Liệu con người hiện đại có tiếp tục tiến hóa không? Nhìn từ một góc độ, các tiện nghi ở các đô thị hiện đại không đòi hỏi cơ chế chọn lọc tự nhiên nữa và nếu các chính trị gia không tác oai tác quái thì trên trái đất thừa đủ lương thực cho mọi người.
Nhưng nhìn từ góc độ khác, nền văn minh tất yếu sẽ dẫn nhân loại tới vấn nạn nhân mãn. Số lượng con người đang cư trú trên trái đất đã quá đông, liệu phản ứng chọn lọc để loại bỏ các nhân mạng yếu ớt có tự động tái diễn không? Mà đó lại chính là điều Darwin đã dừng lại.
Học thuyết của ông cân đối và hợp lô gích khi nói tới các cá thể. Thế còn khi liên quan tới sự chọn lọc tập thể thì sao? Bộ lạc nào, dân tộc nào, nền văn minh nào sẽ sống sót trong hoàn cảnh khủng hoảng môi trường, lương thực, năng lượng?
Theo nhận định của TS Nga Valeri Kuvakin, thành viên Ủy ban Viện Hàn lâm Khoa học Nga chống lại ngụy khoa học, Tổng biên tập tạp chí "Ý tưởng lành mạnh", học thuyết của Darwin đã đặt nền móng cho thuyết tiến hóa vạn năng, như quy luật cơ khí học của Newton nằm trong cơ sở xây dựng của mọi bức tranh vật lý khác của thế giới.
Hiện nay, thuyết tiến hóa đã bao trùm lên mọi lĩnh vực, từ môn vũ trụ học, nguồn gốc của vũ trụ tới sự phát triển của các cơ thể sống. Dĩ nhiên là, như vẫn thường thấy, học thuyết này cũng có những giới hạn của nó trong quá trình phát triển của các kiến thức khoa học.
Trong một số việc nào đó học thuyết Darwin có thể còn yếu, chưa chuẩn xác, chưa đủ lập luận xác đáng. Bởi lẽ, khi Darwin xây dựng học thuyết của mình thì đã còn quá nhiều điều trong tự nhiên chưa được tìm hiểu kỹ càng và những khoảng trống kết nối các khâu khác nhau là quá lớn. Những khoảng trống này hiện nay đang được thường xuyên bổ sung.
Học thuyết của Darwin đúng đắn về mặt nguyên tắc. Không thể khác thế vì mọi việc gần như đều được xây dựng trên cơ sở của học thuyết này

2) VŨ TRỤ HỌC NHÌN LẠI LỊCH SỬ TRÁI ĐẤT
Sự sống rải khắp ngân hà


Nhiều hành tinh trong dải Ngân hà hội đủ điều kiện cho sự sống phát triển - Ảnh: NASA

Sinh vật ngoài hành tinh nhiều khả năng đang tồn tại trên khoảng 40.000 thế giới khác trong dải Ngân hà và rất có thể, hầu hết đều thông minh hơn con người chúng ta.
Đó chính là tuyên bố gây sốc của các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Edinburg (Anh) đăng trên chuyên san Vật lý học thiên thể quốc tế do báo Telegraph dẫn lại. Theo tính toán của các nhà khoa học người Anh, có đến 37.964 hành tinh trong dải Ngân hà hội đủ điều kiện cho phép hình thành sự sống và thậm chí hỗ trợ cho những loài sinh vật thông minh như trên trái đất hiện nay.
Nhóm khoa học gia do nhà vật lý học thiên thể Duncan Forgan dẫn đầu đã xây dựng một chương trình vi tính mô phỏng dải Ngân hà và nhập toàn bộ dữ liệu từ trước đến nay mà con người đã thu thập được khi nghiên cứu ít nhất 330 hành tinh ngoài trái đất, như các yếu tố về khoảng cách của hành tinh với mặt trời của nó, khả năng tồn tại nước và các khoáng chất hỗ trợ cho sự sống phát triển. Chương trình này được cho là có độ chính xác cao hơn hẳn phương trình Drake, tồn tại từ năm 1961, vốn được giới khoa học sử dụng lâu nay để tính xác suất các nền văn minh ngoài trái đất trong phạm vi dải Ngân hà. Theo tiến sĩ Forgan, độ chính xác của phương trình Drake bị giới hạn do nó dựa vào những giá trị trung bình để làm tham số, như là các nền văn minh có khả năng giao tiếp với Trái đất.
Với cách tính toán mới, các nhà khoa học tại Đại học Edinburg phân tích 3 kịch bản về cách sự sống được tạo ra trên những hành tinh xa xôi. Thứ nhất, nhóm nghiên cứu cho rằng sự sống rất khó được hình thành nhưng dần dần chúng có thể tiến hóa và có thể có đến 361 nền văn minh thông minh trong dải Ngân hà. Viễn cảnh thứ hai, cuộc sống dễ dàng được hình thành nhưng rất vất vả để phát triển thành nền văn minh cao cấp. Theo hướng này thì có đến 31.513 hình thái của sự sống đang tồn tại đâu đó. Giả thuyết cuối cùng là sự sống tồn tại dưới dạng vi khuẩn, đơn bào có thể đã được truyền từ hành tinh này sang hành tinh khác trong những vụ va chạm thiên thạch, và kết quả là có thể có đến 37.964 nền văn minh ngoài trái đất.
Báo Telegraph dẫn giả thuyết của nhà khoa học Forgan cho rằng các hình thức sự sống không phải là thể đơn bào amip mà là những chủng loại có độ tiến hóa ít nhất như con người chúng ta. Và không loại trừ những nền văn minh này tiến hóa hơn con người trên trái đất vì hầu hết các hành tinh khác mà giới khoa học đang nghiên cứu đều xuất hiện trước quả địa cầu. Ông tin rằng con người phải mất từ 300 đến 400 năm để liên lạc được với những người láng giềng trong dải Ngân hà, và có thể mất đến 30.000 năm mới đến được những hành tinh trên. Sắp tới, vào tháng 3 năm nay, Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) sẽ phóng lên không gian kính viễn vọng Kepler trị giá 550 triệu USD được thiết kế đặc biệt để phát hiện những hành tinh giống Trái đất bên ngoài hệ Mặt trời.
QUAN NIỆM CÁ NHÂN VỀ PHÁT TRIỂN SINH GIỚI
Thầy, cảm nhận đầu tiên của nhóm 12 sau khi làm bài này là : MỆT RÃ RỜI
Ngày nào cũng dán mắt vào máy vi tính liên tục, tìm tư liệu, tìm sách, scan hình, chọn lọc lại tư liệu, biên tập, đánh máy,……..tốn sức và tốn xiền nữa…wá wải luôn! Nhưng nói đi cũng phải nói lại, suốt wá trình tìm hiểu, tụi con đã thu lượm cho mình rất nhiều kiến thức thú vị và bổ ích. Tự nhiên cảm thấy tự hào khi mình là CON_NGƯỜI, đỉnh cao của sự tiến hoá, thừa hưởng những ưu điểm tuyệt vời nhất của sinh giới. Có cảm giác như toàn bộ sinh giới này hình thành và lien tục phát triển chỉ vì một mục đích duy nhất: Tạo nên con người và khuất phục con người. Thật kì diệu !
Đây cũng là lần đầu nhóm làm môt bài tiểu luận, lóng ngóng hết chỗ chê! Lần đầu nên xin Sư phụ chấm nương tay chút chút nhen! Cám ơn thầy đã đọc đến hết bài
THÀNH VIÊN TRONG NHÓM:
1/. Trần Thị Nhật An (tìm tư liệu, đánh máy)
2/. Nguyễn Thị Minh Tâm(Tìm tư liệu, in ấn, scan hình, chọn tư liệu)
3/. Lê Đình Hoàng (Tìm tư liệu, đánh máy, chọn tư liệu)
4/. Nguyễn Ngọc Thuỳ Dương (Tìm tư liệu, tìm sách, biên tập)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Các Sách
-Sách Sinh học 12 – Bộ giáo dục và đào tạo – NXB giáo dục – 2008
- Sách Nguồn gốc loài người trong tiến hóa của Nguyễn Đình Khoa – NXB giáo dục - 2001
- Sách Tổ tiên của người hiện đại của Nguyễn Quang Quyền – NXB khoa học và kĩ thuật – 1993
- Sách Bách khoa toàn thư về khoa học – NXB văn hóa – 1997
- Sách di truyền và tiến hoá của Trần Đức Lợi_ NXB Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
- Các trang web:
http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/200851/20081220213421.aspx
http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/200851/20081221200257.aspx
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ngu%E1%BB%93n_g%E1%BB%91c_s%E1%BB%B1_s%E1%BB%91ng
http://home.vicnet.net.au/~suthernx/essay1.htm
http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200906/20090207223152.aspx
http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Khoa-Hoc/Thuyet_tien_hoa_cua_Darwin_150_nam_tuoi/
http://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20080701010538AAkqFLQ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét