Thứ Hai, 24 tháng 8, 2009

NGUỒN GỐC SỰ SỐNG - NHÓM 7 - 12B10(08-09)

TRƯỜNG : MARIE CURIE
LỚP : 12B10
NHÓM : 07
GVBM : NGUYỄN LÂM QUANG THOẠI
NĂM HỌC : 2008-2009






ĐỀ TÀI:
SỰ PHÁT SINH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SỰ SỐNG TRÊN TRÁI ĐẤT











MỤC LỤC




TÊN BÀI TRANG
BÀI 32: NGUỒN GỐC SỰ SỐNG 1
MỞ RỘNG BÀI HỌC 4
CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT 6
BÀI 33: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINH GIỚI 10
CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT 12
BÀI 34: SỰ PHÁT SINH LOÀI NGƯỜI 17
MỞ RỘNG BÀI HỌC 21
CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT 23
BÀI TẬP 28





CHƯƠNG II:
SỰ PHÁT SINH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SỰ SỐNG TRÊN TRÁI ĐẤT
BÀI 32: NGUỒN GỐC CỦA SỰ SỐNG

Sự sống đầu tiên trên Trái Đất xuất hiện cách đây khỏang 3.5→ 4 tỉ năm và quá trình tiến hóa hình thành nên tế bào đầu tiên được chia làm 4 giai đoạn:
Hình thành các hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ.
Trùng phân các đơn phân tạo thành các đại phân tử.
Tương tác giữa các đại phân tử hình thành cơ chế tự nhân đôi.
Hình thành các tế bào sơ khai.
TIẾN HÓA HÓA HỌC :
Hình thành các chất hữu cơ đơn giản từ các chất vô cơ:
Theo ông Oparin và Haldane đã độc lập nhau cùng đưa ra giả thuyết cho rằng các hợp chất hữu cơ đơn giản đầu tiên trên Trái Đất có thể được xuất hiện bắng con đường hóa tổng hợp từ các chất vô cơ nhờ nguồn năng lượng là sấm sét, tia lửa ngọai, núi lửa: Bầu khì quyển nguyên thủy không có oxi, dưới tác dụng của nguồn năng lượng tự nhiên (tia chớp, tia lửa ngọai, nhiệt độ của núi lửa,…) một số các chất vô cơ kết hợp tạo nên chất hữu cơ đơn giản: Acid Amin, đường từ khí Methane, nucleotit,… Các đơn phân kết hợp với nhau tạo thành các đại phân tử

Năm 1953, Miller và Uray đã làm kiểm chứng: Tạo ra môi trường có thành phần hóa học giống khí quyẩn của Trái Đất nguyên thủy trong bình thủy 5 lít. Hỗn hợp khí CH4, NH3, H2 và hơi nước được đặt trong điều kiện phóng điện liên tục suốt 1 tuần. Kết quả thu được một số chất hữu cơ đơn giản trong đó có các a.a.
















Mô tả thí ngiệm của Miller và Uray

Quá trình trùng phân tạo nên các đại phân tử hữu cơ:
Để chứng minh các đơn phân như a.a có thể kết hợp với nhau tạo nên các chuỗi polipeptit đơn giản trong điều kiện của Trái Đất nguyên thủy,vào những năm 1950, Fox và các cộng sự đã tiến hành thí nghiệm đun nóng hỗn hợp các a.a khô ở nhiệt độ 1501800C và đã tạo ra được các chuỗi peptit ngắn được gọi là protein nhiệt.
 Kết Luận : Các đơn phân tử kết hợp với nhau tạo thành các đại phân tử.


Thí nghiệm của Fox


Sự xuất hiện cơ chế tự nhân đôi :
ADN có trước hay ARN có trước?
Một số bằng chứng khoa học chứng minh ARN có thể tự nhân đôi mà không cấn đến enzim nên ARN tiến hóa trước ADN.
ARN có khả năng tự nhân đôi, CLTN sẽ chọn lọc ra các phân tử ARN có khả năng tự nhân đôi tốt, có họat tính enzim tốt làm vật liệu di truyền. Từ ARNAND.
Hình thành cơ chế dịch mã :
ARN là khuôn để các a.a liên kết nhau tạo thành chuỗi pôlipeptit và chúng được bao bọc bởi màng bán thấm cách li với môi trường ngòai.

Tiến hóa tiền sinh học :
Các đại phân tử như lipit, protein, các axit nucleic,… xuất hiện trong nước và tập trung với nhau thì các phân tử lipit do đặc tính kị nước sẽ lập tức hình thành nên lớp màng bao bọc lấy tập hợp các đại phân tử hữu cơ tạo nên các giọt nhỏ li ti khác nhau. Các giọt nhỏ này chịu sựu tác động của CLTN sẽ tiến hóa dần tạo nên các tế bào sơ khai ( protobiont).
Các protobiont có được tập hợp các phân tử giúp chúng có khả năng trao đổi chất và năng lượng với bên ngòai, có khả năng phân chia và duy trì thành phần hóa học thích hợp thì sẽ được giữ lại và nhân rộng.
Bằng thực nghiệm, các nhà khoa học cũng đã tạo ra được các giọt gọi là lipoxom khi cho lipit vào trong nước cùng một số các chất hữu cơ khác nhau. Lipit đã tạo nên lớp màng bao bọc lấy các chất hữu cơ khác và một số lipoxom cũng đã biểu hiện một số đặc tính sơ khai của sự sống như phân đôi, trao đổichất với môi trường bên ngòai. Ngòai ra các nhà khoa học cũng tạo được các giọt côaxecva có khả năng tăng kích thước và duy trì cấu trúc tương đối ổn định trong dung dịch.
Sau khi các tế bào nguyên thủy được hình thành thì quá trình tién hóa sinh học tiếp diễn, dưới tác động của các nhân tố tiến hóa tạo ra các lòai sinh vật như hiện nay.






MỞ RỘNG BÀI HỌC:
Oparin đã tiến hành thí nghiệm và cho thấy các giọt Coacervate có thể thu nhận các enzyme và thực hiện một số phản ứng sinh hoá











Phản ứng hoá sinh trong giọt Coacervate
(Glucose-1-Phosphate) -> tinh bột + Phosphate
Khi các giọt Coacervate hấp thụ các chất vào chúng trở nên quá lớn và có xu hướng tự phân chia thành nhiều giọt nhỏ. Các giọt có thành phần tốt hơn có thể to ra rồi chia tiếp. Theo Oparin, chọn lọc tự nhiên sẽgiữ lại và hoàn thiện các giọt tốt hơn để tạo nên các tế bào đầu tiên








Cũng như Oparin, Fox cho rằng hệ thống tiền sinh (prebiont) dẫn đến sự thành lập tế bào đầu tiên là những giọt đa phân tử cực nhỏ, nhưng ông gọi chúng là các vi cầu dạng protein (proteinoid microsphere)

Năm 1960, Fox dùng dung dịch Proteinoides (chịu nhiệt) đun nóng 130o -> 180oC rồi lành lạnh dần qua 1 -> 2 tuần trong PH và nồng độ muối nhất định tạo ra các hạt hình cầu nhỏ đường kính vài micrometer gọi là vi cầu. Vi cầu có nhiều tính chất tiêu biểu của tế bào, như trương lên trong môi trường nhược trương và co lại trong ưu trương, thành lập màng đôi ở mặt ngoài tuy nhiên màng của chúng chưa có cấu tạo Lipid. có chuyển động bên trong, tăng kích thước và tăng sự phức tạp, nẩy chồi trông giống như sinh sản của nấm men và có khuynh hướng kết thành chùm giống như nhiều vi khuẩn. Fox đặc biệt chú ý đến khả năng xúc tác của các vi cầu. Ông chứng minh được rằng các vi cầu có thể xúc tác các phản ứng phân huỷ Glucose và hoạt động chức năng giống các enzyme Esterase, Peroxydase.

Micropheres (các hạt vi cầu)

Quá trình hình thành lớp màng đôi Lipid cũng xảy ra nhờ các hiện tượng tự nhiên. thường lipid nhẹ phủ lên bề mặt chất lỏng thành một lớp. nếu gió hay nguyên nhân nào đó làm giọt nước này nẩy lên cao. Khi nẩy lên nó được bao 1 lớp lipid, lúc rơi xuống đè lên bề mặt lipid cũ sẽ tạo thành 1 lớp màng lipid đôi

Cả coacerva và vi cầu đều có cơ cấu tổ chức và phân biệt với môi trường, các phản ứng hóa học xảy ra bên trong giọt không chỉ tùy thuộc vào điều kiện môi trường, mà còn tùy thuộc vào chính tổ chức của giọt. Vì có thể có những chất đậm đặc hơn trong giọt, xác xuất tham gia phản ứng tăng lên; và do tổ chức bên trong giọt, mỗi phản ứng sẽ ảnh hưởng đến các phản ứng khác với phương thức không giống như khi các chất nầy tự do trong môi trường ngoài. Tóm lại, các điều kiện đặc biệt trong giọt sẽ có tác động chọn lọc và điều hòa các phản ứng hóa học xảy ra ở đó.

Có nhiều hệ thống tiền sinh loại này có thể xuất hiện ở biển trên quả đất sơ khai. Có lẽ phần lớn không bền nên không tồn tại lâu, một số giọt đầu tiên chứa những hỗn hợp đặc biệt nhất là có tính xúc tác nhờ đó tạo ra sự tương tác đồng bộ giữa các phản ứng. Những giọt nầy tăng kích thước, rồi vở ra thành những giọt nhỏ hơn có thành phần và tính chất giống như những giọt ban đầu. Sau đó các giọt lại tăng trưởng và vở ra. Sự sinh sản nguyên thủy có lẽ không có sự kiểm soát của acid nhân, mặc dù chúng có thể được tổng hợp trong điều kiện vô sinh và kết hợp thành chất tiền sinh

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT:

NGUỒN GỐC SỰ SỐNG
Sự sống xuất hiện cách đây khoảng 3,5 -> 4 tỉ năm. Một hòn đá stromatolites (một loại đá trầm tích cổ, thường chứa các loại vi khuẩn hóa thạch) tìm thấy ở công viên quốc gia Glacier, Mỹ. Vào năm 2002, William Schopf của UCLA đã cho rằng mẫu đá này đã có từ 3.5 tỉ năm trước Nếu đúng, đây có thể là hình thái sự sống đầu tiên trên Trái Đất.








Hòn đá stromatolites

Ngoài ra, những lớp đá trầm tích cổ phát hiện cách đây 3.2 -> 3.4 tỉ năm cócác hoá thạch vi sinh vật, nên sự sống được coi như xuất hiện cách đây 3,5 tỉ năm
Trong thực tế không có một thuyết chuẩn nào về nguồn gốc sự sống. Tuy nhiên, những thuyết được người ta chấp nhận nhiều nhất đều được xây dựng trên một số những phát hiện về cấu trúc phân tử và tế bào. Chúng bao gồm những luận điểm sau:
1. Ở những điều kiện thích hợp, những vật chất không sống có thể tạo nên những phần cấu tạo nên tế bào sống, như amino acid. Điều này đã được chứng minh qua thí ngiệm Urey-Miller do Stanley L. Miller và Harold C. Urey vào năm 1953
2. Những hợp chất phospholipid với độ dài thích hợp có thể tạo nên màng lipid, một trong hai thành phần chủ yếu của màng tế bào.
3. Quá trình trùng hợp của nucleotide trở thành những mạch ARN ngẫu nhiên dẫn đến sự nhân đôi các ribozyme (giả thiết "Thế giới ARN" của Carl Woesoe).
4. Những thúc đẩy tự nhiên về tính xúc tác tốt và tính đa dạng đã tạo nên các ribozyme có khả năng chuyển hóa peptide thành các hạt protein nhỏ. Từ đó, các oligopeptide cùng với ARN tạo thành những chất xúc tác tốt hơn hình thành. Do đó sinh ra các hạt ribosome, làm cho sự hình thành các protein được dễ dàng hơn.
5. Protein đã vượt qua ribozhyme về khả năng xúc tác, và trở thành một lớp màng sinh học cơ bản nhất. Acid nucleic chỉ còn tìm thấy trong các gen tế bào
.Những hợp chất vô cơ và hữu cơ cơ bản nhất tạo nên sự sống là methane (CH4), ammonia (NH3), nước (H2O), hydro sulfua (H2S), carbon dioxit (CO2) và phosphate (PO43-). Cho đến năm 2006, chưa có một ai đã điều chế nhân tạo được một tế bào nguyên mẫu từ những chất cơ bản. Nhà sinh vật học John Desmond Bernal, đã đưa ra ba quá trình mà qua đó sự sống hình thành:
Bước 1: Sự hình thành các monomers
Bước 2: Sự hình thành các polymers
Bước 3: Sự tiến hóa từ các cấp độ phân tử lên đến tế bào
CỔ KHUẨN (Archaea)
Các vi sinh vật cổ mà trước đây gọi là các vi khuẩn cổ (Archaeobacteria) là nhóm cơ thể nhân sơ có sớm nhất (khoảng 3,5-4 tỷ năm trước đây).


hệ thống 3 lĩnh giới của sinh vật:
Vi khuẩn (Bacteria), Cổ khuẩn (Archaea) và Sinh vật nhân thực (Eukarya).



Loài vật đầu tiên trên Trái đất

Thay đổi cây sự sống


Lịch sử tiến hóa của loài sứa phiến lược tiết lộ những điều ngạc nhiên về loài động vật đầu tiên trên Trái đất (Ảnh: Casey Dunn)
Một trong những phát hiện gây ngạc nhiên của nghiên cứu là loài sứa phiến lược đã tách ra khỏi các loài động vật khác và tự đi trên con đường tiến hóa riêng của nó còn trước cả loài bọt biển. Điều thú vị này đã làm ngỡ ngàng những quan điểm truyền thống cho rằng loài bọt biển bé nhỏ là loài vật phân nhánh tiến hóa sớm nhất ở phần gốc của cây sự sống. Dunn cho biết: “Đây đúng là một cú sốc, đến nỗi ban đầu chúng tôi cho rằng có nhầm lẫn ở đâu đó”.
Nhưng ngay cả khi nhóm nghiên cứu của Dunn đã kiểm tra lại kết quả đồng thời bổ sung thêm nhiều dữ liệu thì những gì họ thu được vẫn chỉ là loài sứa phiến lược có mô và hệ thần kinh đã tách ra khỏi các loài khác trước cả loài bọt biển (không có mô, không có cả hệ thần kinh)

Cũng theo Dunn, sự xuất hiện của những đại diện sứa phiến lược có cấu trúc tương đối phức tạp ở ngay phần gốc của cây sự sống chứng tỏ một điều rằng động vật đầu tiên trên Trái đất có lẽ cũng phức tạp hơn nhiều những gì chúng ta vẫn nghĩ.

Trong khi vẫn thận trọng cho rằng cần phải tiến hành thêm nhiều nghiên cứu bổ sung để chứng thực cho phát hiện của nhóm, Dunn cho biết loài sứa phiến lược chỉ có thể vượt qua loài bọt biển đơn giản về “tuổi đời” nhờ một trong hai kịch bản tiến hóa dưới đây:
1) Loài sứa phiến lược tự tiến hóa phức tạp độc lập với các loài động vật khác, sau khi nó tách nhánh để thực hiện con đường tiến hóa riêng của mình.
2) Loài bọt biển đã tiến hóa thành dạng đơn giản từ những sinh vật phức tạp hơn – Theo Dunn, đây là một khả năng nhằm nhấn mạnh sự thực là “tiến hóa không nhất thiết là phải phát triển cao hơn nhằm tăng mức độ phức tạp. Kịch bản tiến hóa này sẽ là một ví dụ xác thực và điển hình cho quy luật nói trên”.





.

Bài 33: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINH GIỚI QUA CÁC ĐẠI ĐỊA CHẤT
I. HÓA THẠCH VÀ VAI TRÒ CỦA HÓA THẠCH TRONG NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINH GIỚI:
1. Hóa thạch là gì ?
- Hóa thạch là di tích của các sinh vật để lại trong các lớp đất đá của vỏ Trái Đất Di tích của sinh vật để lại có thể dưới dạng các bộ xương, những dấu vết của sinh vật để lại trên đá (vết chân, hình dáng…), xác các sinh vật được bảo quản gần như nguyên vẹn trong các lớp hổ phách hoặc trong các lớp băng…
Các nhà khoa học vừa phát hiện ra dấu vết chân hoá thạch của khủng long cách đây 200-210 triệu năm ở ngoại ô thành phố Ella (Thuỵ Sĩ).

Kích thước của bàn chân vào khoảng 60 cm, là dấu vết của loài khủng long dài 6m, cao 2m. Các nhà khoa học cho rằng nếu tính cả độ dài của đuôi và cổ của loài khủng long này, chiều dài của chúng lên tới 20m.

Hóa thạch ostracod từ Dry Valleys thuộc Nam Cực có chiều dài nhỏ hơn 1 mm, nhưng bảo quản các mô mềm bao gồm phần chân và miệng. Phần đầu nằm ở phía phải
2. Vai trò của các hóa thạch trong nghiên cứu lịch sử của sinh giới:
Hóa thạch cung cấp cho chúng ta những bắng chứng trực tiếp về sự phát triển của sinh giới. Bằng phương pháp xác định tuổi của các hóa thạch, người ta có thể biết được loài nào xuất hiện trước, loài nào xuất hiện sau cũng như mối lien hệ họ hang giữa các loài.
Tuổi của hóa thạch có thể xác định bằng phương pháp phân tích các đồng vị phóng xạ của cacbon và urani .
II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA SINH GIỚI QUA CÁC ĐẠI ĐỊA CHẤT
1. Hiện tượng trôi dạt lục địa
Hiện tượng trôi dạt lục địa là hiện tượng các phiến kiến tạo trên lớp vỏ Trái Đất liên tục di chuyển do lớp dung nham nóng chảy bên dưới chuyển động.
Những biến đổi về kiến tạo của vỏ Trái Đất như quá trình tạo núi, trôi dạt lục địa dẫn đến thay đổi rất mạnh điều kiện khí hậu của Trái Đất, do vậy có thể dẫn đến những đợt đại tuyệt chủng hang loại các loài và sau đó là thời đei63m bùng nổ sự phát sinh các loài mới.
2. Sinh vật trong các đại địa chất
- Dựa vào quá trình biến đổi của Trái Đất, các nhà địa chất học chia lịch sử phát triển của Trái Đất thành các giai đoạn chính được gọi các đại dịa chất. Bao gồm: đại thái cổ, đại nguyên sinh, đại cổ sinh, đại trung sinh, đại tân sinh. Các đại lại được chia nhỏ thành các kỉ. Ranh giới giữa các đại hoặc các kỉ thường là các giai đoạn có những biến đổi của Trái Đất làm cho sinh vật bị tuyệt chủng hàng loạt và sau đó là bắt đầu một giai đoạn tiến hóa mới của các sinh vật sống sót. Các sinh vật sống sót tiến hóa và bước vào giai đoạn bùng nồ, phát sinh các loài mới và chiếm li4ng các ổ sinh thái còn trống.
- Mỗi đại, mỗi kỉ thường có các đặc điểm về địa chất và khí hậu riêng biệt nên cũng kéo theo sự phát triển của nhóm sinh vật điển hình.Ví dụ: đại trung sinh còn được gọi là kỉ nguyên của bò sát.





CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT:
Các thời kì phát triển sinh vật - khủng long


Thiên văn dù nghiên cứu vũ trụ cũng không thể quên chúng ta là một phần của vũ trụ, không có nhiều thời gian nhưng vẫn lập chủ đề để mong được cùng mọi người thảo luận và các bạn sẽ có một vấn đề hấp dẫn để cùng trao đổi kiến thức.

Sự sống bắt nguồn từ đâu, đó là điều gần đây chúng ta thường xuyên nhìn thấy trong các tin tức thiên văn mới nhất. Con người đang lên "cơn sốt" tìm kiếm sự sống ngoài Trái Đất. Nhưng nó lại đồng thời đặt ngược lại cho chúng ta câu hỏi rằng chúng ta đến từ đâu và sự sống đã tiến hóa như thế nào

Vũ trụ đã hình thành hơn 15 tỷ năm, Trái Đất thân yêu của chúng ta thì đã 5 tỷ năm rồi. Trong khi đó Sự sống hình thành thì cách đây chưa lâu, đặc biệt là sự sống của con người (sinh vật có trí tuệ) thì lại càng gần đây. Gần hơn nữa, chúng ta - những người đang vào diễn đàn này thì chúng ta mới chỉ ra đời mấy chục năm gần đây, thậm chí có những em mới 14,15 năm.

Toàn bộ quá trình địa chất tương ứng với sự phát triển sinh vật trên Trái Đất được chia thành các giai đoạn lớn gọi là các đại và chia nhỏ ra là các kỉ.

Xa xưa nhất là đại thái cổ Archeozoic bắt đầu cách đây 4,6 tỷ năm và kết thúc cách đây 2,6 tỷ năm (tức là kéo dài 2 tỷ năm). Đại này không chia kỉ.

Đại nguyên sinh Proterozoic Bắt đầu 2,6 tỷ năm trước và kết thúc cách đây 570 triệu năm. Đại này cũng không chia kỉ.

Trong hai đại này, sự sống đã bắt đầu hình thành từ đầu đại thái cổ, khoảng trên 3 tỷ năm trước. Sự sống nảy sinh từ các phân tử hữu cơ và phát triển trong hai đại này ở mức độ sơ đẳng, sinh vật cấp thấp.

Đại cổ sinh Paleozoic Bắt đầu 570 triệu năm trước và kết thúc ấch đây 245 triệu năm. Đây là thời kì sự sóng phát triển khá mạnh với sự có mặt của các loài động thực vật có câấu tạo bắt đầu tương đối phức tạp.

Đại này được chia thành 6 kỉ lần lượt là
Cambry
Ordovic
Silure
Devone
Carbon
Permi

Đại trung sinh Mesozoic bắt đầu cách đây 245 triệu năm và kết thúc cách đây 66,4 triệu năm. Đại này chia thành 3 kỉ là
Triat
Jura
Creta

Như chúng ta đều biết (chắc ai cũng xem phim Jurassic Park rồi) là thờikì phát triển rất mạnh mẽ của sinh vật trên mặt đất, đặc biệt là loài bò sát. Thời gian này kết thúc cùng với sự tuyệt diệt của bò sát khổng lồ vào đầu đại tân sinh sau đó.

Đại tân sinh Cenozoic bắt đầu ngay sau khi đại trung sinh kết thúc và kéo dài đến bây giờ. Chúng ta ra đời vào kỉ thứ 4 của đại này.
Bài trên đã nhắc đến một giai đoạn sinh vật phát triển rất mạnh và chúng ta ai ai cũng biết tới, nghĩ tới như nghĩ về một huyền thoại. Đó là Đại trung sinh với sự phát triển mạnh mẽ của toàn bộ giới động thực vật, đặc biệt là loài bò sát khổng lồ (khủng long)

Khủng long (những con rồng khủng khiếp) là cái tên người ta dành cho những loài bò sát khổng lồ thống trị Trái Đất suốt từ180 triệu đế 65 triệu năm trước (từ kỉ Triat- đầu đại trung sinh đến đầu đại tân sinh của chúng ta).

Sự to lớn khác thường và nhữg câu chuyện kì lạ (đôi khi là nổ) về loài vật này đã biến chúng thành huyền thoại sống trong thế giới hiện đại. Tất cả sự thật về các loài vật này đến nay chưa được khám phá hết, ở đây xin giới thiệu qua một chút về các loài khủng long.

ACROCANTHOSAURUS


Một trong những loài khủng long ăn thịt lớn nhất, có thể dài đến 9m, nặng khoảng 2,5 tấn. Sống trên Trái Đất vào khoảng trên 100 triệu năm trước, thời kì của kỉ Creta




ALLOSAURUS


Một họ hàng hung bạo khác của T-rex, dài khoảng 12m, cao 5m. Có phần nguy hiểm hơn cả bạo chúa T-rex nhờ chiếc cổ dài linh hoạt và đôi chân dài chạy rất nhanh



AMARGASAURUS

Dài 8-10m và nặng ít nhất 5 tấn, đây là một trong những loài khủng long ăn lá cây lớn nhất. Xương của loài khủng long này được tìm thấy chủ yếu tại Argentina






ANKYLOSAURUS

Là một loài thuộc họ khủng long vây lưng, Ankylosaurus dài khoảng 8m, cao 2m, nặng chừng 3-4 tấn. Nó được trang bị trên lưng một tấm áo giáp chống lại các kẻ thù ăn thịt và một chiếc trùy khổng lồ nặng nề ở đầu đuôi làm vũ khí. Loài này sống trong rừng rậm và ăn lá cây vào khoảng 70 triệu trước.
APATOSAURUS

Còn được gọi là Brontosaurus, đây là một trong những loài lớn nhất thuộc họ khủng long cổ dài. Nó có thể dài đến 27m và nặng đến 35 tấn. Hóa thạch của các chú này được tìm thấy phần nhiều ở Colorado - Mĩ. Khác với tưởng tượng của nhiều người hay cả trong nhiều bộ phim trước kia (VD như Jurassics Park), các loài thuộc họ khủng long cổ dài không ngẳng cao đầu như hươu cao cổ, cái cổ dài của chúng gần như tạo thành một đường thằng với cái đuôi dài và ăn lá cây ở khá thấp


BRACHIOSAURUS
đây là loài khủng long lớn nhất của họ cổ dài và cũng là lớn nhất của thế giứoi khủng long. Khác với Apatosaurus, Brachiosaurus có thể ngẩng cổ cao hơn nhiều để ăn lá cây. Nó ó thể dài đến trên 30m, nặng từ 40-60 tấn, khi ngóc đầu cao nhất có thể cao đến 15m. Loài khủng long này thường được gọi là lôi long (thằn lằn sấm).
Xét về kích thước, nó có thể sáng ngang với cá voi xanh hiện nay, chỉ nhẹ hơn một chút.
Loài bò sát này sống cách đây chừng 140 triệu năm, khi các lục địa trên Trái đất chưa hoàn toàn phân cách như ngày nay (khi đó là thời kì lục địa duy nhất Pangeia vừa tách ra thành 2 phần là Lavraxia và Gonvana)


CAMARASAURUS

Một loài khác thuộc họ cổ dài trên cạn. Nhỏ hơn 2 loài trên một chút, nó dài 7,5-18m, nặng khoảng trên 20 tấn, xuất hiện sớm hơn Brachiosaurus một chút, khoảng 155 triệu năm trước. Con vật này ưa thích các loại cay lá kim (các họ hàng với cây thông ngày nay), có nhiều hóa thạch tìm thấy tại Bắc Mĩ






CARCHARODONTOSAURUS

Một họ hàng khá gần với bạo chúa T-rex, nó có thể dài đến 12m, nặng trên 8 tấn, sống khoảng 100 triệu năm trước và săn mồi trên vùng Bắc Phi ngày nay.



ALLOSAURUS

Một họ hàng hung bạo khác của T-rex, dài khoảng 12m, cao 5m. Có phần nguy hiểm hơn cả bạo chúa T-rex nhờ chiếc cổ dài linh hoạt và đôi chân dài chạy rất nhanh.




DIMETRODON


Một loài thằn lằn tổ tiên thời đầu của các loài khủng long sau này, nó xuất hiện từ cách đây 280 triệu năm tại lục địa duy nhất thời đó Pangeia (cuối đại cổ sinh). Nó dài chừng 3-4m và nặng khoảng 250kg (kích thước của một con cá sấu loại trung)
Các hóa thạch tìm thấy nhiều ở Texas - Mĩ.

Bài 34: SỰ PHÁT SINH LOÀI NGƯỜI
Quá trình tiến hóa của loài người gồm 2 giai đoạn:
Tiến hóa sinh hoc – giai đoạn tiến hóa hình thành nên loài người hiện đại (Homo Sapiens) – và tiến hóa văn hóa – giai đoạn tiến hóa của loài người từ khi hình thành cho đến nay.
I. QUÁ TRÌNH PHÁT SINH LOÀI NGƯỜI HIỆN ĐẠI – TIẾN HÓA SINH HỌC:
1. Bằng chứng về nguồn gốc động vật của loài người:
a. Các đặc điểm giống nhau giữa người và vượn người:
 Về hình thái giải phẫu:
 Hình dạng, kích thước cao, không đuôi, đứng trên 2 chân.
 Có 1213 đôi xương sườn, 56 đốt xương cùng, có 32 các răng
 Não bộ to, nhiều nếp gấp, nhiều khúc cuộn.
 Có 4 nhóm máu.
 Kích thước và hình dạng tinh trùng giống nhau. Chu kì kinh nguyệt và thời gian mang thai, quá trình phát sinh phôi thai giống nhau.
 Về sinh học phân tử:
Người và vượn hiện đại có nhiều đặc điểm chung ở mức độ phân tử như: ADN, protein
Kết luận:
Các bằng chứng về giải phẫu và ADN cho thấy loài người và tinh tinh có quan hệ họ hang gần gũi nhất.
b. Các đặc điểm khác nhau giữa người và vượn người:
 Cột sống hình chữ S
 Xương chậu rộng, tay ngắn hơn chân
 Nảo người có nhiều nếp nhăn, khúc cuộn, thùy trán phát triển, sọ lớn hơn mặt
 Có lồi cằm
 Tín hiệu trao đổi ở người: có tiếng nói, biết tư duy trừu tượng do vỏ não có vùng cử động nói và hiểu tiếng nói
 Xuất hiện xã hội 1 vợ 1 chồng làm tăng khả năng chăm sóc và dạy dỗ con cái
c. Các đặc điểm thích nghi nổi bật của người
- Kích thước não bộ tăng dần (từ 450cm3 ở vượn người tăng lên 1350cm3 ở người hiện đại) làm tăng khả năng tư duy, ngôn ngữ và tiếng nói.
- Xương hàm ngắn dần cùng với biến đổi về răng, thích nghi với việc ăn tạp.
- Đi thẳng bằng 2 chân cùng với sự tiêu giảm bộ lông trên bề mặt cơ thể
- Giảm dần sự khác biệt về kích thước giữa giới đực và cái (loài Gorida con đực gấp 2 lần con cái; tinh tinh gấp 1,3 lần ; người còn 1,2 lần).
- Xuất hiện cấu trúc gia đình làm tăng khả năng chăm sóc và dạy dỗ con cái.
2. Các dạng vượn người hóa thạch và quá trình hình thành lòai người:
- Tổ tiên chung của người và các lòai vượn hiện nay là lòai vượn người sống trên cây (các bằng chứng hóa thạch cho thấy người và các loài linh trưởng Châu Phi (tinh tinh) có chung tổ tiên các đây khỏang 5 7 triệu năm là Austratopithecus Afarensis.)
- Khi rừng thu hẹp, lòai vượn cổ đại chuyển xuống sống trên các đồng cỏ, khả năng đi thẳng là có lợi vì có thể phát hiện kẻ thù từ xa. Đi thẳng bằng chân đã giải phóng 2 tay khỏi chức năng di chuyển  tay trở thành cơ quan sử dụng và chế tạo công cụ lao động, vũ khí…
- Từ loài vượn người cổ đại Austratopithecus đã phân hóa thành nhiều lòai khác nhau, trong đó có nhánh tiến hóa thành loài Homo habilis (người khéo léo, có bộ não phát triển 575cm3 ; biết sử dụng công cụ bằng đá); từ loài này hình thành nên nhiều lòai khác trong đó có loài Homo erectus (người đứng thẳng) và tiếp đến là người hiện đại Homo sapiens và loài gần gủi với loài người hiện đại là Homo neanderthalensis (đã bị loài hiện đại cạnh tranh và làm tuyệt chủng các đây khỏang 30000 năm)


Quá trình phát sinh các loài trong chi Homo

Công cụ bằng đá
3. Quê hương của loài người:
- Các bằng chứng về ADN và ti thể ủng hộ giả thuyết cho rằng loài người được phát sinh tại châu Phi, sau đó phát tán sang các châu lục khác.

II. NGƯỜI HIỆN ĐẠI VÀ TIẾN HÓA VĂN HÓA:
So sánh bộ nào của Homo sapiens và người ngày nay không có sai khác về kích thước
Khi tiến hóa sinh học đem lại cho con người một số đặc điểm thích nghi như: bộ não lớn với các vùng ngôn ngữ và tiếng nói phát triển; bàn tay linh họat từ chỗ chỉ biết sử dụng những công cụ bằng đá thô sơ để tự vệ và bắt thú rừng  biết sử dụng lửa để nấu chín thức ăn, biết chế tạo quần áo, lều trại trú ẩn  làng mạc, đô thị: đó là tiến hóa văn hóa. Vậy tiến hóa văn hóa là sản phẩm của tiến hóa sinh học.
Nhờ có tiến hóa văn hóa mà con người đã nhanh chóng trở thành lòai thống trị trong tự nhiên, có ảnh hưởng rất lớn đến sự tiến hóa của loài khác và có khả năng điều chỉnh chiều hướng tiến hóa của chính mình.
Nhờ sự tiến bộ về công nghệ mà con người càng ít phụ thuộc vào tự nhiên và có khả năng điều chỉnh hướng tiến hóa của mình cũng như của sinh giới.



Quá trình tiến hóa của người



MỞ RỘNG:
Con người xuất hiện từ chỗ nào?



Từ trên xuống: Homo erectus, Neandertal, người
Căn cứ theo thuyết tiến hóa, loài người xuất hiện tại một địa phương nhất định, rồi lan dần đi nhiều nơi. Charles Darwin, ông tổ thuyết tiến hóa đã lập luận rằng châu Phi là cái nôi của nhân loại. Lý luận của Darwin rất đơn giản: châu Phi là nơi tìm thấy tinh tinh (chimpanzee) và khỉ đột (gorilla), hai họ hàng gần gũi nhất của loài người. Đây là một lập luận lý thuyết vì (i) lúc đó chưa kiếm được xương người hóa thạch tại châu Phi (chỉ mới kiếm thấy tại Neandertals, Đức) và (ii) làm sao biết tinh tinh và khỉ đột là loài gần gũi với loài người nhất? Các khai quật và nghiên cứu di truyền học sau này chứng minh Darwin hoàn toàn đúng, tuy rằng có một thời nhiều nhà khoa học tin sai rằng người hiện đại bắt nguồn từ giống người đứng thẳng tân thời tại Đông Á.

Cho đến gần nay, hầu hết các xương người hoá thạch đều kiếm thấy tại miền đông châu Phi. Vì thế trong thập niên 1980 có giả thuyết cho rằng Thung Lũng Rift tại châu Phi chia tổ tiên chung của con người và khỉ hình người thành hai nhóm. Vì điều kiện môi trường khác biệt, nhóm miền đông tiến hóa thành người trong khi nhóm miền tây tiến hóa thành tinh tinh và khỉ đột. Tuy nhiên, nếu khám phá mới nhất về thủy tổ loài người tại Chad (2.500 cây số về phía tây của Thung Lũng Rift) năm 2000 được công nhận, giả thuyết phân chia đông tây sẽ không còn đứng vững được.





Con người là gì?
Con người hiện nay khác các loài động vật khác về nhiều mặt. Về cơ thể và hình dáng, con người đứng thẳng, đi hai chân và não bộ to so với cơ thể. Về hành vi và sinh hoạt thì con người biết làm và dùng khí cụ, sống có tổ chức, biết suy tính về tương lai và có thể thay đổi môi trường chung quanh tùy theo nhu cầu của mình. Về văn hóa, con người biết nói, có nghệ thuật, tự nhận thức mình và có khả năng phán đoán đạo đức.

Trong quá trình tiến hóa của loài người, yếu tố nào đã phân biệt con người ra khỏi các loài động vật khác, đặc biệt là nhóm khỉ hình người (apes)? Các suy nghĩ về bản chất của con người đã thay đổi theo thời gian, tùy theo điều kiện kinh tế hay xã hội của từng thời như sau:

 Vào thế kỷ 19, cuộc đời được xem là cuộc chiến đấu, và sự tiến bộ xẩy ra do sáng kiến và cố gắng. Trong thời kỳ này người ta nhấn mạnh đến sự sáng tạo các võ khí bằng đá.
 Đến dầu thế kỷ 20, các nhà nhân chủng coi sự tăng trưởng của óc và khả năng suy tưởng là đặc điểm đầu tiên của con người.
 Vào khoảng thập niên 1940, giả thuyết Người là kẻ làm dụng cụ (Man the tool maker) trở thành phổ thông. Theo thuyết này, sự sáng tạo và sử dụng các công cụ đá (ngược với sáng tạo võ khí đá) là sức đẩy cho sự tiến hóa của con người.
 Trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai, thuyết Người là khỉ giết nhau (Man the killer ape) được nhiều người công nhận vì nó phù hợp với thảm cảnh của chiến tranh.
 Trong thập niên 1960, các nhà nhân chủng lại cho rằng lối sống săn bắn và hái lượm là nét chính trong nguồn gốc con người. Các thuyết này lại còn chia thành hai thuyết phụ: Đàn ông săn bắn và Đàn bà hái lượm.

Các khám phá về khảo cổ và nhân chủng học trong vòng 30, 40 năm nay cho thấy thủy tổ loài người đã xuất hiện và đi hai chân rất nhiều triệu năm trước khi óc bắt đầu to ra và biết làm dụng cụ. Do đo, dù các giả thuyết mới nhất về nguồn gốc con người có khuyng hướng dựa trên sinh vật học hơn là văn hóa. Gần đây, các nhà cổ nhân chủng và sinh vật học tập trung rất nhiều vào việc giải thích tại sao thủy tổ loài người bỏ cây xuống đất đi bằng hai chân. Ngày nay, phần lớn các nhà cổ nhân chủng học đồng ý rằng 'người đứng thẳng' (homo erectus) có thể xem là giống đầu tiên hội đủ tiêu chuẩn 'con người'. Người đứng thẳng xuất hiện tại Đông Phi vào khoảng 2 triệu năm trước. Khác với những giống người khỉ trước đó chỉ sống tại châu Phi, người đứng thẳng với đôi chân dài, bộ óc to và thân khỏe mạnh, lan tràn khắp cựu thế giới (châu Phi, Âu và Á) khá nhanh chóng.

Quá trình tiến hóa lòai người

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT










Quá trình tiến hóa của người Homo sapiens
Mặc dù đã từng được xem là thuỷ tổ của loài người, giống người Neanderthal sau này được khoa học xem như một ngõ cụt của quá trình tiến hoá, không liên quan gì đến cha ông của chúng ta - giống người thông minh Homo sapiens. Người Neanderthal tồn tại trong những hoá thạch được xác nhận có niên đại chừng 230.000 năm trước, và ở thời phát triển cực thịnh, những thợ săn tiền sử mạnh mẽ, béo lùn này đã đặt dấu chân lang bạt khắp châu Âu ngày nay, sang tận Israel ở phía nam và Uzbekistan ở phía đông.

Còn giống người Homo sapiens tiến hoá từ châu Phi đã tiến vào châu Âu khoảng 40.000 năm trước và dần dần chiếm chỗ của giống người Neanderthal đang trên đà tuyệt diệt.

Nhưng cách đây 2 tháng, các nhà nghiên cứu Anh, Tây Ban Nha và Nhật đã xác định được niên đại của những hòn than từ một bếp lò xưa vùi sâu trong lòng hang động Gorham ở Gibraltar - một bán đảo ở tây nam châu Âu được Tây Ban Nha nhượng cho Anh từ 1713. Những hòn than tiền sử này nằm chung tầng khai quật mà các nhà khảo cổ trước đó đã đào được nhiều công cụ bằng đá của giống người thượng cổ châu Âu Mousterian vốn là một chi hệ của giống người Neanderthal. Những mẩu than này có niên đại khoảng 24.000 năm trước, trong khi các chứng cớ khoa học trước đó đều kết luận giống người Neanderthal đã tuyệt diệt từ trước đó cả 10.000 năm. Những thế hệ Neanderthal cuối cùng của 10.000 năm ấy đã đi đâu?

Sọ người Neanderthal được tìm thấy ở Gibraltar
Những kết quả nghiên cứu mới công bố đầu tháng 11 này từ những hoá thạch tiền sử phát hiện ở Rumani lại tiếp tục hâm nóng cuộc tranh cãi triền miên về cội nguồn nhân loại. Tại sao giống người Neanderthal lực lưỡng lại dễ dàng bị diệt vong như thế? Nhiều nhà khoa học đã bằng lòng với giả thuyết là chính giống người Homo sapiens khi từ châu Phi đặt chân đến châu Âu đã thảm sát giống người Neanderthal để tranh giành những vùng đất săn bắn và hái lượm trong công cuộc sinh tồn. Giống người thông minh nhưng cũng đầy bản năng hiếu chiến đã tàn sát giống người khoẻ mạnh nhưng hiền hoà?

Nhưng những nghiên cứu mới đăng tải trên nội san Proceedings of the National Academy of Sciences (Biên bản Viện Hàn lâm khoa học Mỹ) lại ủng hộ ý tưởng tình cảm hơn cho rằng giống người Neanderthal cuối cùng đã bị sáp nhập với giống người Homo sapiens qua việc lai giống. Các nhà nghiên cứu Rumani và Mỹ đã xác định được những xương cốt hoá thạch tìm thấy ở động Petera Muierii (Rumani) có niên đại khoảng 30.000 năm trước - giai đoạn mà giống người Neanderthal và Homo sapiens còn song song tồn tại. Trong khi phần lớn hình dạng các bộ xương đều giống con người hiện đại, nhiều chi tiết lại mang đặc điểm của giống người Neanderthal - đặc biệt là hình dáng xương hàm dưới và phía sau hộp sọ.

Nhà nhân chủng học Erik Trinkaus của Đại học Washington thuộc nhóm nghiên cứu này cho biết: "Xương hàm của giống người Neanderthal có những đặc tính giải phẫu học riêng biệt, không liên quan đến việc tiến hoá của xương hàm con người hiện đại khi chuyển từ săn thịt sống sang thịt nấu chín". Những khớp xương vai của những bộ xương người tiền sử ở Rumani cũng chưa phát triển hoàn thiện, không thể nào thực hiện những động tác xoay vòng cánh tay để phóng lao, bắn tên hay ném đá. Theo Trinkaus, những đặc điểm này thấy rõ trong những hoá thạch người Neanderthal và những giống người đầu tiên từ cả triệu năm trước.

Người Neanderthal thay vì bị diệt chủng lại giao phối với người Homo sapiens. Để củng cố giả thuyết này, Trinkaus đưa ra nhiều bằng chứng lai giống khác từ các di chỉ khảo cổ ở châu Âu như di chỉ Mladec ở Czech. Kể cả bộ xương 24.500 năm tuổi của một cậu bé tiền sử phát hiện năm 1998 ở hang động Abrigo do Lagar Velho (Bồ Đào Nha) cũng mang những đặc điểm hỗn hợp giữa hai giống người tiền sử. Rõ ràng giống người Neanderthal đã góp phần tô điểm cho dung nhan con người hiện đại.









Những mảnh hoá thạch của xương sọ, hàm trên, hàm dưới, và xương bả vai có từ 30.000 năm trước của giống người Homo sapiens phát hiện ở Rumani gần đây cho thấy nhiều đặc điểm thừa hưởng của giống người Neanderthal


Mô hình phục dựng theo bộ xương 24.500 năm tuổi của một cậu bé tiền sử phát hiện năm 1998 ở hang động Abrigo do Lagar Velho (Bồ Đào Nha) cho thấy những đặc điểm hỗn hợp giữa hai giống người tiền sử Neanderthal và Homo sapiens.



Những phát hiện mới về nguồn gốc con người luôn là một sự kiện khoa học được giới truyền thông chú ý. Giả thuyết về một giống người Homo sapiens "không thượng đẳng" mà đã lai tạp với giống Neanderthal chính là tiền nhân của con người hiện đại đã làm không ít chuyên gia bất mãn.

Bác bỏ giả thuyết của Trinkaus, những nghiên cứu về gen di truyền ADN của người tiền sử lại được trích dẫn. Từ những hoá thạch được biết đã phân tích gen, các kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy bộ mã ADN của người Neanderthal không có tác động gì đến con người hiện đại. Những điểm tương đồng giữa giống người Neanderthal và tiền nhân của chúng ta đã kết thúc từ 400.000 năm trước.

Nhưng Fred Spoor, giáo sư môn giải phẫu học tiến hoá của University College London lại cho rằng những kết quả phân tích DNA không chứng minh được việc lai giống giữa hai giống người thượng cổ đã không xảy ra. "Người Neanderthal và người Homo sapiens hoàn toàn có khả năng giao phối lẫn nhau và các thế hệ con cái có thể sống độc lập", Spoor nói. Vấn đề không phải là người Neanderthal đã bị người Homo sapiens tiêu diệt như thế nào mà là người Neanderthal đã "hội nhập" vào thế giới Homo sapiens đến mức nào.

NHỮNG CHUYÊN GIA ĐI NGƯỢC THỜI GIAN

Ngành nhân chủng học tiền sử (paleoanthropology) ra đời từ thế kỷ 19 với việc khám phá những bộ xương người thượng cổ trong thung lũng Neanderthal ở Đức năm 1856. Địa danh ấy được đặt tên cho một chi hệ của giống người tiền sử Homo neanderthal mặc dầu những bộ xương hoá thạch của cùng giống người ấy đã được phát hiện tại nhiều nơi khác ở châu Âu từ năm 1830.

Giả thuyết cho rằng con người có nguồn gốc từ loài vượn đã tồn tại từ lâu nhưng ý tưởng về quá trình tiến hoá sinh học của các giống loài chỉ được chính thức công nhận khi Charles Darwin xuất bản cuốn The Origin of Species (Nguồn gốc các giống loài) năm 1859.

Mãi đến những năm 1920, những hoá thạch người tiền sử mới được tìm thấy ở châu Phi. Năm 1924, Raymond Dart đã mô tả giống người thượng cổ Australopithecus africanus qua mẫu hoá thạch bộ xương một đứa bé được đặt tên là Taung Child do phát hiện trong hang động Taung ở châu Phi. Điểm đặc biệt nhất trong hoá thạch này là hộp sọ tròn còn nguyên vẹn giống hình dáng hộp sọ con người ngày nay hơn là giống các loài vượn. Những bộ phận khác cũng cho thấy bằng chứng của khả năng đi bằng hai chân và biết ăn thịt của giống người Australopithecus africanus.

Giống người tiền sử châu Phi lâu nay vẫn được xem là tổ tiên trực hệ của giống người Homo sapiens - tiền thân của chúng ta, nhưng những khám phá và kết quả nghiên cứu mới lại đặt dấu hỏi vào giả thuyết này.










Một chiếc răng hoá thạch của người Neanderthal tìm thấy sâu trong lòng
hang động Petera Muierii (Rumani)












Hoạ sĩ tái tạo khuôn mặt một người đàn bà Neanderthal



BÀI TẬP;
Đa số động vật nguyên sinh lấy thức ăn bằng cơ chế:
A. Thực bào.
B. Khuyếch tán.
C. Ẩm bào.
D. Thẩm thấu.
Đáp án là : (A)

Loài xuất hiện sớm nhất trong chi Homo là?
A. H.habilis
B. H.erectus
C. H.floresiensis
D. H.sapiens
Đáp án là : (A)

Thể tích hộp sọ ,đứng thẳng ,đi bằng hai chân sau,biết sử dụng công cụ bằng cành cây,hòn đá,mảnh xương thú để tự vệ là của dạng:
A. Cromanhon
B. Neandectan
C. Pitecantrop
D. Otralopitec
Đáp án là : (D)

vượn người hóa thạch parapitec thường sử dụng công cụ lao đông?
A. không để lại dấu vết
A. không để lại dấu vết
B. đá silic
C. xương thú
D. mảnh tươc có cạnh sắc
Đáp án là : (A)

Nội dung nào dưới đây nói về ý thức của người là không đúng:
A. Tiếng nói và ý thức có tác dụng ngược trở lại giúp cho lao động phát triển
B. Não người có khả năng phản ánh thực tại khách quan, dưới dạng trừu tượng khái quát đặt cơ sở cho sự hình thành ý thức
C. Giúp con người truyền đạt kinh nghiệm đấu tranh thiên nhiên và xã hội hiệu quả hơn
D. Giúp con người truyền đạt kinh nghiệm đấu tranh thiên nhiên và xã hội hiệu quả hơn
Đáp án là : (C)

6. Hãy sắp xếp cho phù hợp giữa các dạng hoá thạch trong quá trình phát sinh loài người và đặc điểm tương ứng về chiều cao và hộp sọ:
I. Pêticantrôp x: cao 155 – 166cm; sọ 1400 cm3
II. Xinantrôp y:cao 170 cm, sọ 900– 950 cm3
III. Nêandectan z: cao 180 cm; sọ 1700cm3
IV. Crômahôn w: cao 170 cm; sọ 850- 1220cm3
A. I- W; II-z; II-y; IV-x
C. I- w; II-z; III-x; IV-y
B. I-Z; II-y; III- w; IV-x
D. I-y; II- w; III-x; IV-y
Đáp án là : (D)
7. Dạng vượn người hoá thạch giống người nhiều nhất là
A. Parapitec
B. Đriopitec
C. Ôxtralôpitec
D. Propliôpitec
Đáp án là : (C)

Nhân tố chính chi phối quá trình phát sinh loài người ở giai đoạn vượn người hóa thạch là :
A. Sự thay đổi điều kiện địa chất ở kỉ thứ Ba
B. Quá trình biến dị ,giao phối ,chọn lọc tự nhiên
C. việc chế tạo ,sử dụng công cụ lao động có mục đích
D. Cả a,b,c đều đúng
Đáp án là : (B)

Tại sao dáng đứng thẳng là một đặc điểm có lợi được chọn lọc tự nhiên bảo tồn và tích lũy trong quá trình phát sinh loài người
A. Có tác dụng phát hiện được kẻ thù từ xa ở môi trường trống trải
B. Giúp giải phóng hai chi trước khỏi chức năng di chuyển
C. Giúp chế tạo công cụ lao động tốt hơn
D. Giúp săn bắn tốt hơn
Đáp án là : (A)

Nhân tố chính chi phối quá trình phát sinh loài người ở giai đoạn vượn người hóa thạch là:
A. Quá trình biến dị, giao phối và chọn lọc tự nhiên
B. Việc chế tạo và sử dụng công cụ lao động có mục đích
C. Sự thay đổi điều kiện địa chất khí hậu ở kỉ thứ 3
D. Lao động, tiếng nói, tư duy
Đáp án là : (A)














THÀNH VIÊN TRONG NHÓM


HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ
Nguyễn Lê Thủy Cúc -Tìm kiếm tài liệu bài 34
-Chỉnh sửa
-In bài
Lê Anh Thư -Tìm kiếm tài liệu bài 32,33
-Tìm kiếm bài tập
-Chỉnh sửa
Nguyễn Thụy Đăng Thư -Tìm kiếm tài liệu 33,34
-Đánh văn bản
-Chỉnh sửa
Hoàng Đình Đức Bảo (NT) -Tìm kiếm tài liệu bài 32
-Chỉnh sửa



TÀI LIỆU THAM KHẢO

www.diendan.nuocnga.net
www.khoahoc.com
www.vietbao.vn
www.khoahocphattrien.com
www.khoahocphothong.net
www.truongton.net
www.f.tin247.com
www.mc.maricopa.edu
www.myspace.com
www.newworldenclopedia.org
www.vietsciences.free.fr
www.vi.wikipedia.org
www.vietnamsingle.com
www.google.com

THE END

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét